Các thử nghiệm lâm sàng

Tiếp cận đến các phương pháp điều trị ung thư của tương lai — dưới sự hướng dẫn an toàn của các chuyên gia ung thư của chúng tôi.

Thông tin nhanh

Các thử nghiệm lâm sàng nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của các phương pháp điều trị ung thư mới.

Tất cả các nghiên cứu đều được Ủy ban Đạo đức và các cơ quan y tế có liên quan của Singapore phê duyệt và giám sát.

Các bệnh nhân đủ điều kiện có thể tiếp cận các phương pháp điều trị mới chưa được đưa ra thị trường.

Thử nghiệm lâm sàng là gì?

Các thử nghiệm lâm sàng là nghiên cứu y tế được quản lý chặt chẽ, được thực hiện nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của các phương pháp điều trị ung thư mới.

Được tiến hành theo các tiêu chuẩn Thực hành lâm sàng tốt (GCP) quốc tế, các thử nghiệm này giúp bệnh nhân tiếp cận các phương pháp điều trị đầy hứa hẹn trước khi chúng được phổ biến rộng rãi — đồng thời góp phần vào những tiến bộ trong tương lai của lĩnh vực điều trị ung thư.

Khi tham gia, bệnh nhân có thể được điều trị bằng các phương pháp đang trong giai đoạn thử nghiệm dưới sự giám sát y tế chặt chẽ, từ đó giúp các bác sĩ cải thiện kết quả điều trị trong tương lai.

Các giai đoạn của thử nghiệm lâm sàng

Pha 1

Thử nghiệm một loại thuốc hoặc phương pháp điều trị mới trên một nhóm nhỏ người tham gia để xác định tính an toàn, phạm vi liều lượng và các tác dụng phụ tiềm ẩn của nó.

Pha 2

Đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị mới đối với các loại ung thư cụ thể. Bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ để đánh giá phản ứng với điều trị và các tác dụng phụ.

Pha 3

So sánh phương pháp điều trị mới với liệu pháp tiêu chuẩn nhằm xác nhận hiệu quả, theo dõi các tác dụng phụ và thu thập dữ liệu từ các nhóm bệnh nhân có quy mô lớn hơn.

Pha 4

Được thực hiện sau khi nhận được sự chấp thuận của cơ quan quản lý và đưa ra thị trường, các nghiên cứu này tiếp tục đánh giá tính an toàn và hiệu quả của thuốc đối với quần thể dân số nói chung.

An toàn và giám sát

Sự an toàn của bạn là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi.

Tất cả các thử nghiệm lâm sàng tại OncoCare Singapore đều được tiến hành theo các hướng dẫn quốc tế nghiêm ngặt và dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý. Mỗi nghiên cứu đều theo các quy trình được thiết lập đảm bảo an toàn cho bệnh nhân, tính minh bạch và tính liêm chính khoa học.

Mỗi thử nghiệm lâm sàng:

  • Được đánh giá bởi Ủy ban Đạo đức (IRB/EC) nhằm bảo vệ quyền lợi của bệnh nhân
  • Được các cơ quan quản lý như Cơ quan Khoa học Y tế (HSA) phê duyệt
  • Được theo dõi chặt chẽ bởi các bác sĩ, điều dưỡng và điều phối viên thử nghiệm giàu kinh nghiệm

Các thử nghiệm lâm sàng được thiết kế đảm bảo tính an toàn, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức và được kiểm soát chặt chẽ ở mọi giai đoạn.

Tại sao nên tham gia thử nghiệm lâm sàng?

  • Tiếp cận sớm các phương pháp điều trị mới – bao gồm các liệu pháp đang trong giai đoạn thử nghiệm như liệu pháp miễn dịch tiên tiến và các phương pháp điều trị nhắm mục tiêu, vốn có thể chưa được áp dụng rộng rãi.
  • Được theo dõi y tế chặt chẽ – bệnh nhân được theo dõi thường xuyên và kỹ lưỡng hơn so với chăm sóc thông thường nhằm đảm bảo an toàn và xử lý kịp thời các tác dụng phụ.
  • Đóng góp cho nghiên cứu ung thư – sự tham gia của bạn giúp các bác sĩ và nhà khoa học cải thiện các phương pháp điều trị ung thư trong tương lai và nâng cao kết quả điều trị cho bệnh nhân.

Cam kết của chúng tôi đối với nghiên cứu lâm sàng

Các thử nghiệm lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển phương pháp điều trị ung thư và cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân. Tại OncoCare Singapore, các bác sĩ của chúng tôi đang tích cực tham gia vào các nghiên cứu lâm sàng nhằm mang đến cho bệnh nhân phương pháp điều trị mới đầy hứa hẹn.

Các nghiên cứu này tuân theo một quy trình được quốc tế công nhận để đánh giá các phương pháp điều trị mới, bao gồm liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư, theo cách có cấu trúc và hệ thống. Kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng giúp các bác sĩ hiểu rõ hơn về hiệu quả điều trị và các tác dụng phụ, từ đó mang lại lợi ích lâu dài cho các bệnh nhân trong tương lai.

Thông qua phương thức này, các thử nghiệm lâm sàng không chỉ mang đến cơ hội tiếp cận các phương pháp điều trị mới mà còn góp phần vào việc không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân ung thư tại Singapore và trên toàn thế giới.

Các thử nghiệm lâm sàng tại Singapore

Các thử nghiệm lâm sàng tại Singapore được quản lý chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức.

Tất cả các nghiên cứu đều phải trải qua quá trình đánh giá và phê duyệt nghiêm ngặt của các ủy ban đạo đức và cơ quan y tế quốc gia trước khi bệnh nhân có thể tham gia. Điều này đảm bảo rằng mọi thử nghiệm đều đáp ứng các tiêu chuẩn cao về sự an toàn, chất lượng và tính minh bạch.

Khung pháp lý chặt chẽ của Singapore và cam kết mạnh mẽ đối với hoạt động nghiên cứu đã giúp Singapore trở thành một trung tâm hàng đầu về các thử nghiệm lâm sàng tiên tiến trong lĩnh vực ung thư.

Khám phá các lựa chọn của bạn ngay hôm nay

Nếu bạn đang cân nhắc tham gia các thử nghiệm lâm sàng như một phần trong hành trình điều trị của mình, đội ngũ của chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ và tư vấn cho bạn. Hãy trao đổi với các bác sĩ của chúng tôi bằng cách đặt lịch hẹn theo thư điện tử enquiries@oncocare.sg, hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua email clinicaltrials@oncocare.sg

Các thử nghiệm lâm sàng đang thực hiện - Đang tuyển người tình nguyện tham gia

S/NChỉ địnhTên nghiên cứuNhà tài trợNghiên cứu viên chínhGiai đoạnTrạng tháiThuốc dùng trong nghiên cứu
L14Ung thư phổi di căn Thử nghiệm lâm sàng pha 3 đa trung tâm, ngẫu nhiên, nhãn mở, có đối chứng nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của BAY 2927088 dùng qua đường uống so với phác đồ điều trị tiêu chuẩn như là liệu pháp bước đầu ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn có đột biến kích hoạt HER2 (BAY22615)BayerBác sĩ Tan Chee Seng3Tuyển dụngBAY 2927088 so với
Hóa trị SOC
B11Ung thư vúSo sánh Elacestrant với liệu pháp nội tiết tiêu chuẩn ở nữ giới và nam giới mắc ung thư vú giai đoạn sớm, HER2 âm tính, thụ thể estrogen dương tính, hạch bạch huyết dương tính, và có nguy cơ tái phát cao — Một nghiên cứu quốc tế, pha 3, đa trung tâm, ngẫu nhiên, nhãn mở (ELEGANT)Stemline Therapeutics, Inc. / ParexelBác sĩ Tan Sing Huang3Tuyển dụngElacestrant so với liệu pháp nội tiết tiêu chuẩn
P13Ung thư tuyến tiền liệtMột nghiên cứu quốc tế, pha II/III, ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm, so sánh AAA817 với phương pháp điều trị tiêu chuẩn tốt nhất trong điều trị cho người trưởng thành mắc ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn di căn dương tính với PSMA, mà bệnh tiến triển trong hoặc sau khi điều trị nhắm mục tiêu [177Lu]Lu-PSMA.NovartisBác sĩ Tay Miah Hiang2/3Tuyển dụngAAA817 ([225Ac]Ac-PSMA-617) so với phương pháp điều trị tiêu chuẩn tốt nhất

Tình hình nghiên cứu tổng thể của tất cả các thử nghiệm lâm sàng tại OncoCare

S/NChỉ địnhTên nghiên cứuNhà tài trợNghiên cứu viên chínhGiai đoạnTrạng tháiThuốc dùng trong nghiên cứu
C3Ung thư đại trực tràngNghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, nhãn mở, so sánh XLO92 kết hợp với Atezolizumab với Regorafenib ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn (XLO92-303)Exelixis/ PRABác sĩ Angela Pang Shien Ling3Đã hết hạn tuyển dụngXLO92 + Atezolizumab so với Regorafenib
B10Ung thư vúNghiên cứu pha III, ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm nhằm đánh giá hiệu quả và an toàn của phác đồ Giredestrant kết hợp với Everolimus so với phác đồ Exemestane kết hợp với Everolimus ở bệnh nhân ung thư vú HER2 âm tính, thụ thể estrogen dương tính, giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn (MI43171)GENENTEC/PPDBác sĩ Peter Ang Cher Siang3Đã hết hạn tuyển dụngGIREDESTRANT + EVEROLIMUS so với EXEMESTANE + EVEROLIMUS
B9Ung thư vúNghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, nhãn mở, gồm hai phần, so sánh sử dụng Gedatolisib kết hợp với Palbociclib và Fulvestrant với các phác đồ điều trị tiêu chuẩn ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn tiến triển HER2 âm tính, thụ thể hormone (HR) dương tính, từng được điều trị bằng chất ức chế CDK4/6 kết hợp với liệu pháp ức chế Aromatase không Steroidal (VIKTORIA-1)Celcuity, Inc./ PSIBác sĩ Wong Nan Soon3Đã hết hạn tuyển dụngGedatolisib + Palbociclib + Fulvestrant so với Gedatolisib + Fulvestrant so với Fulvestrant so với Alpelisib + Fulvestrant
LY2Ung thư hạchMột thử nghiệm lâm sàng pha 2, nhãn mở, sử dụng Nanatinostat kết hợp với Valganciclovir ở bệnh nhân ung thư hạch (u lympho) tái phát/kháng trị, dương tính với virus Epstein-Barr (EBV+) (NAVAL-1)Viracta Therapeutics, Inc./ IconBác sĩ Kevin Tay Kuang Wei1/2Đã đóngNanatinostat và Valganciclovir
L12Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Nghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, so sánh MRTX849 với Docetaxel ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ từng điều trị trước đó và có đột biến KRAS G12C (Mirati 12)Mirati/ PRABác sĩ Tan Chee Seng3Đã đóngMRTX849 so với Docetaxel
C1Ung thư đại trực tràngNghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, so sánh sử dụng MRTX849 kết hợp với Cetuximab so với hóa trị ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn tiến triển có đột biến KRAS G12C, với tình trạng bệnh tiến triển trong hoặc sau khi điều trị bước đầu tiêu chuẩn (Mirati 10)Mirati/ PRABác sĩ Thomas Soh I Peng3Đã hết hạn tuyển dụngMRTX849 + Cetuximab so với hóa trị
L8Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Nghiên cứu pha 1/2, đa trung tâm, về tính an toàn, dược động học và hiệu quả sơ bộ của APL-101 ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến bỏ qua exon 14 của gen c-Met và các khối u đặc giai đoạn tiến triển có rối loạn điều hòa gen c-MetApollomics/ MedpaceBác sĩ Leong Swan Swan2Đã đóngAPL-101
G5Ung thư dạ dàyNghiên cứu pha 3, đa trung tâm, ngẫu nhiên, về Zanidatamab kết hợp với hóa trị có hoặc không có Tislelizumab, ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến dạ dày thực quản (GEA) với HER2 dương tính, giai đoạn tiến triển tại chỗ không thể phẫu thuật hoặc di cănCông ty TNHH BeiGeneBác sĩ Thomas Soh I Peng3Đã đóngTrastuzumab + CAPOX hoặc FP so với Zanidatamab + CAPOX hoặc FP so với Zanidatamab + CAPOX hoặc FP so với Trastuzumab + CAPOX hoặc FP
C2Ung thư đại trực tràngNghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, nhãn mở, so sánh XLO92 kết hợp với Atezolizumab với Regorafenib ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng di cănExelixis/ PRABác sĩ Angela Pang Shien Ling3Đã hết hạn tuyển dụngXLO92 + Atezolizumab so với Regorafenib
E1Ung thư nội mạc tử cungNghiên cứu pha III, ngẫu nhiên, đa trung tâm, mù đôi, có đối chứng giả dược, về sử dụng liệu pháp bước đầu Carboplatin và Paclitaxel kết hợp với Durvalumab, tiếp theo là liệu pháp duy trì Durvalumab có hoặc không có Olaparib ở bệnh nhân mới được chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung giai đoạn tiến triển hoặc tái phát (DUO-E)AstraZeneca/ LabcorpBác sĩ Lim Sheow Lei3Đã hết hạn tuyển dụngCarboplatin + Paclitaxel + Durvalumab/thuốc giả dược, sau đó là Durvalumab/thuốc giả dược + Olaparib/thuốc giả dược
B10Ung thư vúNghiên cứu pha III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, nhãn mở, đánh giá hiệu quả và an toàn của Giredestrant kết hợp với Everolimus so với Exemestane kết hợp với Everolimus ở bệnh nhân ung thư vú, HER2 âm tính, thụ thể estrogen dương tính, giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn (ML43171)GENENTEC/PPDBác sĩ Peter Ang Cher Siang3Đã hết hạn tuyển dụngGIREDESTRANT + EVEROLIMUS so với EXEMESTANE + EVEROLIMUS
L1Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Nghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, so sánh phác đồ điều trị bước đầu Pemetrexed kết hợp với Cisplatin (tiếp theo là liệu pháp duy trì Gefitinib) với liệu pháp đơn trị Gefitinib ở các bệnh nhân Đông Á (chưa từng hút thuốc hoặc từng hút thuốc ít) mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ không tế bào vảy ở giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di cănELI LILY/ PAREXELBác sĩ Leong Swan Swan3Đã đóngAlimta kết hợp với cisplatin hoặc chỉ dùng Gefitinib
L2Ung thư phổiNghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, nhãn mở, về hiệu quả và an toàn của Crizotinib so với Pemetrexed/Cisplatin hoặc Pemetrexed/Carboplatin ở bệnh nhân chưa từng được điều trị trước đó mắc ung thư biểu mô phổi không phải tế bào vảy có sự chuyển vị hoặc đảo ngược liên quan đến vị trí gen Anaplastic Lymphoma Kinase (ALK)PFIZERBác sĩ Leong Swan Swan3Đã đóngCrizotinib hoặc Alimta kết hợp với carboplatin
L3Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Nghiên cứu pha 2, mù đôi, ngẫu nhiên, về sử dụng Erlotinib (Tarceva) kết hợp với OSI-906 hoặc giả dược ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển chưa từng điều trị hóa trị và có đột biến kích hoạt gen thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR)Astella Pharma/ PPDBác sĩ Leong Swan Swan2Đã đóngTarceva + OSI-906/ Thuốc giả dược
L4Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Nghiên cứu pha 2, ngẫu nhiên, về AP26113 ở bệnh nhân ung thư phổi tế bào không nhỏ (NSCLC) với ALK dương tính từng được điều trị bằng CrizotinibARIAD/ PRABác sĩ Leong Swan Swan2Đã đóngAP26113
L5Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Nghiên cứu quốc tế, pha III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, nhãn mở, về sử dụng MEDI4736 kết hợp với liệu pháp Tremelimumab so sánh với liệu pháp hóa trị tiêu chuẩn dựa vào Platinum trong điều trị bước đầu cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển hoặc di căn (NEPTUNE)AZBác sĩ Leong Swan Swan3Đã đóngMEDI4736 + Tremelimumab so với phác đồ hóa trị tiêu chuẩn dựa trên bạch kim
L6Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Nghiên cứu đa trung tâm, pha 3, nhãn mở, so sánh Brigatinib (AP26113) với Crizotinib ở bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn tiến triển với ALK dương tính ARIAD/ PRABác sĩ Leong Swan Swan3Đã đóngAP26113 (Brigatinib) so với Crizotinib
L7Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) / Ung thư biểu mô niệu mạcNghiên cứu pha 1, nhãn mở, nghiên cứu mở rộng và tăng liều về PF-06801591 ở bệnh nhân mắc ung thư hắc tố tiến triển tại chỗ hoặc di căn, ung thư đầu cổ tế bào vảy, ung thư buồng trứng, u sarcoma, ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư biểu mô niệu mạc hoặc các khối u đặc khác.Syneoshealth/PfizerBác sĩ Leong Swan Swan1Đã đóngPF-06801591
L9Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Nghiên cứu pha 3 đánh giá tính an toàn và hiệu quả của AB122 dùng đơn thuần, AB154 kết hợp với AB122 và AB928 trong điều trị bước đầu ung thư phổi không tế bào nhỏArcus Biosciences, Inc./NovotechBác sĩ Leong Swan Swan2Đã đóngAB122 đơn lẻ so với AB154 + AB122 so với AB154 + AB122 + AB928
L13Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Thử nghiệm lâm sàng quốc tế, pha 3, đa trung tâm, ngẫu nhiên, có đối chứng, nhãn mở, đánh giá hiệu quả và an toàn về sử dụng Spasetinib kết hợp với hóa trị so với chỉ hóa trị đơn thuần, ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) di căn chưa từng được điều trị trước đó, có đột biến chèn Exon 20 của gen EGFRTakfor/ PRABác sĩ Leong Swan Swan1Đã đóngSpasetinib kết hợp với hóa trị so với chỉ hóa trị
M1U tủy đa phátNghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, nhãn mở, so sánh phác đồ Carfilzomib, Melphalan, và Prednisone với phác đồ Bortezomib, Melphalan, và Prednisone ở bệnh nhân mắc bệnh đa u tủy xương mới được chẩn đoán nhưng không đủ điều kiện ghép tủyОпух/ QuintilesBác sĩ Kevin Tay Kuang Wei3Đã đóngCarfilzomib + Melphalan + Prednisone so với
Bortezomib + Melphalan + Prednisone
LY1Ung thư hạchNghiên cứu pha II/III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, so sánh MOR00208 kết hợp với Bendamustine với Rituximab kết hợp với Bendamustine ở bệnh nhân bị u lympho tế bào B lớn lan tỏa tái phát hoặc kháng trị (R-R DLBCL) và không đủ điều kiện để điều trị hóa trị liều cao (HDC) và ghép tế bào gốc tự thân (ASCT) - B-MINDMorphoSys AG./ IconBác sĩ Kevin Tay Kuang Wei2/3Đã đóngMOR00208 + Bendamustine so với Rituximab + Bendamustine
L11Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Nghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, so sánh DS-1062a với Docetaxel ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển hoặc di căn từng được điều trị trước đó, và không có các biến đổi bộ gen có thể can thiệp (Tropion-Lung01)Daiichi Sankyo/ SyneosHealthBác sĩ Tan Chee Seng3Đã hết hạn tuyển dụngDS-1062a so với Docetaxel
L10Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)Patritumab Deruxtecan (U3-1402) ở bệnh nhân  ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) có đột biến gen EGFR tiến triển tại chỗ hoặc di căn từng được điều trị trước đóDaiichi Sankyo/ SyneosHealthBác sĩ Leong Swan Swan2Đã đóngPatritumab Deruxtecan (U3-1402)
B8Ung thư vúNghiên cứu pha 3, đa trung tâm, ngẫu nhiên, nhãn mở, so sánh Trastuzumab Deruxtecan (T-Dd) với hóa trị do nhà nghiên cứu lựa chọn ở bệnh nhân ung thư vú HER thấp, thụ thể hormone dương tính, tiến triển di căn khi đang điều trị bằng liệu pháp nội tiết. (Destiny Breast 06)AstraZenecaBác sĩ Peter Ang Cher Siang3Đã đóngTrastuzumab Deruxtecan (T-Dd) so với hóa trị do nhà nghiên cứu lựa chọn
B7Ung thư vúNghiên cứu pha III, ngẫu nhiên, mù đôi, đánh giá hiệu quả và an toàn của phác đồ Capivasertib kết hợp với Paclitaxel so với phác đồ giả dược kết hợp với Paclitaxel điều trị bước đầu cho bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính (TNBC) xác nhận về mô học, ở giai đoạn tiến triển tại chỗ (không thể phẫu thuật) hoặc di căn (CAPItello - 290)AstraZenecaBác sĩ Tan Sing Huang3Đã đóngCapivasertib + Paclitaxel so với giả dược + Paclitaxel
P1Ung thư tuyến tiền liệtNghiên cứu lâm sàng pha III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, dùng nhiều liều về Alpharadin™ trong điều trị bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt có triệu chứng, kháng hormone và có di căn xươngALGETA/ PHARMANETBác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngALPHARADIN
P2Ung thư tuyến tiền liệtNghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, so sánh hiệu quả và an toàn của aflibercept so với giả dược, được dùng mỗi 3 tuần một lần ở bệnh nhân được điều trị với docetaxel/prednisone cho ung thư tuyến tiền liệt di căn không phụ thuộc androgenSANOFI-AVENTISBác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngAflibercept/thuốc giả dược + Taxotere
P3Ung thư tuyến tiền liệtMột thử nghiệm lâm sàng pha 3, ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm so sánh Orteronel (TAK-700) kết hợp với Prednisone với Giả dược kết hợp với Prednisone ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn di căn chưa từng điều trị hóa trị.Millennium/ PPDBác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngTAK-700/ Thuốc giả dược
P4Ung thư tuyến tiền liệtMột thử nghiệm lâm sàng pha 3, ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm, so sánh Orteronel (TAK-700) kết hợp với Prednisone với Giả dược kết hợp với Prednisone ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn di căn, tiếp tục tiến triển trong hoặc sau khi điều trị bằng Docetaxel.Millennium/ PPDBác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngTAK-700/ Thuốc giả dược
P5Ung thư tuyến tiền liệtNghiên cứu nhãn mở về Abiraterone Acetate ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn di căn, có tiến triển sau khi điều trị hóa trị dựa trên TaxaneJ&JBác sĩ Tay Miah HiangEAPĐã đóngAcetat abiraterone
P6Ung thư tuyến tiền liệtNghiên cứu lâm sàng đa trung tâm, một nhánh, nhãn mở, có mục đích mang đến cơ hội tiếp cận sớm với Cabazitaxel và đánh giá tính an toàn của Cabazitaxel cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt kháng hormone di căn từng được điều trị với phác đồ có DocetaxelSANOFI-AVENTISBác sĩ Tay Miah HiangEAPĐã đóngCABAZITAXEL
P7Ung thư tuyến tiền liệtMột nghiên cứu can thiệp, tiền cứu, một nhánh, nhãn mở, đa trung tâm, quốc tế về dichloride Radium-223 trong điều trị
cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn (CRPC) có di căn xương.
BAYERBác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngDichlorua radium-223
P8Ung thư tuyến tiền liệtMột thử nghiệm lâm sàng pha III, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược, về radium-223 dichloride kết hợp với abiraterone acetate và prednisone/prednisolone trong điều trị bệnh nhân chưa từng điều trị hóa trị, không có triệu chứng hoặc có triệu chứng nhẹ, mắc ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn (CRPC) di căn chủ yếu đến xương.BAYER/ CovanceBác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngDichlorua radium-223 / Abiraterone
P9Ung thư tuyến tiền liệtMột nghiên cứu pha Ib/II ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm về BI 836845 kết hợp với Enzalutamide, so sánh với Enzalutamide đơn thuần, trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn di căn (CRPC) sau khi bệnh tiến triển khi điều trị bằng hóa trị dựa vào Docetaxel và Abiraterone.BIBác sĩ Tay Miah Hiang2Đã đóngBI 836845+ Enzalutamide so với Enzalutamide
P10Ung thư tuyến tiền liệtMột nghiên cứu quan sát tiền cứu, theo chiều dọc, đa quốc gia nhằm mô tả các mô hình chăm sóc và kết quả điều trị ở nam giới có nguy cơ cao cho kết quả lâm sàng xấu khi không đáp ứng sinh hóa sau khi điều trị ung thư tuyến tiền liệt triệt căn, nam giới bị ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn và nam giới bị ung thư tuyến tiền liệt di căn khi được chẩn đoán ban đầu.AstellaBác sĩ Tay Miah Hiang4Đã đóngNA
P11Ung thư tuyến tiền liệtMột nghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, mù đôi về sử dụng Nivolumab hoặc giả dược kết hợp với Docetaxel ở nam giới bị ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn di căn (CheckMate 7DX: Đánh giá thử nghiệm lâm sàng CHECKpoint pathway và nivoluMAB 7DX).BMS/ Syneos HealthBác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngNivolumab + Docetaxel
so với giả dược + Docetaxel
P12Ung thư tuyến tiền liệtMột nghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, nhãn mở, có đối chứng về sử dụng Cabozantinib (XL184) kết hợp với Atezolizumab so với liệu pháp nội tiết thế hệ mới (NHT) thứ hai ở các bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn di căn nguy cơ cao.Exelixis/ PRABác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngCabozantinib (XL184) + Atezolizumab so với liệu pháp nội tiết mới thứ hai (NHT)
R1Ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) - Ung thư thậnNghiên cứu pha II, đa trung tâm, ngẫu nhiên, nhãn mở, so sánh phác đồ bevacizumab kết hợp với RADO01 so với phác đồ interferon alfa-2a kết hợp với bevacizumab trong điều trị bước đầu cho bệnh nhân ung thư biểu mô thận tế bào sáng di cănNOVARTIS/ PAREXELBác sĩ Tay Miah Hiang2Đã đóngEverolimus/interferon
+ Bevacizumab
R2Ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) - Ung thư thậnMột nghiên cứu pha III, ngẫu nhiên, nhãn mở, so sánh sử dụng Atezolizumab (kháng thể chống PD-L1) kết hợp với Bevacizumab so với Sunitinib ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận tiến triển chưa từng được điều trịROCHEBác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngAtezolizumab (kháng thể chống PD-
kháng thể L1) + Bevacizumab so với Sunitinib
R3Ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) - Ung thư thậnNghiên cứu pha III, ngẫu nhiên, nhãn mở, so sánh sử dụng NKTR-214 kết hợp với Nivolumab với sử dụng Sunitinib hoặc Cabozantinib (theo lựa chọn của nhà nghiên cứu) ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận tiến triển chưa từng được điều trị trước đóNektar/ PPDBác sĩ Thomas Soh I Peng
/ Bác sĩ Tay Miah Hiang
3Đã đóngNKTR-214 + Nivolumab
so với Sunitinib hoặc
Cabozantinib
U1Ung thư biểu mô niệu mạcNghiên cứu pha III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược về Atezolizumab (kháng thể chống PD-L1) khi dùng đơn trị và kết hợp với hóa trị dựa trên Platinum ở bệnh nhân ung thư biểu mô niệu mạc tiến triển tại chỗ hoặc di căn chưa từng được điều trịROCHEBác sĩ Tay Miah Hiang3Đã đóngAtezolizumab (kháng thể chống PD-L1) so với Atezolizumab kết hợp với hóa trị liệu dựa trên bạch kim
H1Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) - Ung thư ganNghiên cứu quốc tế về các quyết định điều trị trong ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) và điều trị với SorafenibBAYERBác sĩ Tay Miah Hiang4Đã đóngSorafenib
H2Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) - Ung thư ganThử nghiệm lâm sàng pha II về sử dụng BAY 86-9766 kết hợp với sorafenib điều trị toàn thân bước đầu cho ung thư biểu mô tế bào gan (HCC)BAYERBác sĩ Tay Miah Hiang2Đã đóngSorafenib + Bay 86-9766
H3Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) - Ung thư ganNghiên cứu pha 3, đa trung tâm, ngẫu nhiên, về sử dụng Nivolumab kết hợp với Ipilimumab so sánh với Sorafenib hoặc Lenvatinib điều trị bước đầu ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn tiến triểnBMS/ Syneos HealthBác sĩ Thomas Soh I Peng3Đã hết hạn tuyển dụngNivolumab + Ipilimumab so với Sorafenib hoặc Lenvatinib
H4Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) - Ung thư ganNghiên cứu pha III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược, về sử dụng Durvalumab đơn trị hoặc kết hợp với Bevacizumab như liệu pháp bổ trợ ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan có nguy cơ tái phát cao sau khi phẫu thuật cắt bỏ gan triệt căn hoặc đốt u gan (EMERALD-2)AstraZenecaBác sĩ Thomas Soh I Peng3Đã đóngĐiều trị đơn trị liệu bằng Durvalumab hoặc kết hợp Durvalumab + Bevacizumab
G1U mô đệm đường tiêu hóa (GIST)Tính an toàn và hiệu quả của Regorafenib trong thực hành lâm sàng thường quyBAYERBác sĩ Tay Miah Hiang4Đã đóngRagorefenib
G2Ung thư dạ dàyNghiên cứu pha 3, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược về sử dụng Paclitaxel hàng tuần, có hoặc không kết hợp với sản phẩm thuốc Ramucirumab (IMC-1121B) ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến dạ dày di căn, kháng trị hoặc tiến triển sau khi điều trị bước đầu với Platinum và FluoropyrimidineIMCLONE/ PAREXELBác sĩ Peter Ang Cher Siang3Đã đóngRamucirumab/Thuốc giả dược + Paclitaxel
G3Ung thư dạ dàyNghiên cứu pha II, ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược về GDC-0068, một chất ức chế AKT, kết hợp với Fluoropyrimidine và Oxaliplatin ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến dạ dày hoặc ung thư biểu mô tuyến vùng nối dạ dày thực quản ở giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di cănGENENTECH / PPDBác sĩ Wong Nan Soon2Đã đóngGDC_0068+ Fluoropyrimidine + Oxaliplatin
G4Ung thư dạ dày và ung thư vùng nối dạ dày thực quản (GEJ)Thử nghiệm lâm sàng pha III, ngẫu nhiên, mù đôi, so sánh Pembrolizumab (MK-3475) kết hợp với hóa trị (XP hoặc FP) với giả dược kết hợp với hóa trị (XP hoặc FP) trong vai trò điều trị tân bổ trợ/bổ trợ cho bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến dạ dày và vùng nối dạ dày thực quản (GEJ) (KEYNOTE-585)MSDBác sĩ Thomas Soh I Peng3Đã đóngPembrolizumab (MK-3475) + XP/FP so với giả dược + XP/FP
B1Ung thư vúMột thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm đối chứng giả dược, so sánh dichloride radium-223 với giả dược khi được sử dụng cho các bệnh nhân ung thư vú di căn âm tính với HER2 và dương tính với thụ thể hormone, có di căn xương, đang được điều trị nền bằng liệu pháp hormoneBAYERBác sĩ Wong Nan Soon3Đã đóngXofigo so với giả dược
B2Ung thư vúMột thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm đối chứng dùng giả dược, so sánh việc sử dụng radium-223 dichloride kết hợp với exemestane và everolimus với việc sử dụng giả dược kết hợp với exemestane và everolimus ở những bệnh nhân ung thư vú di căn âm tính với HER2, dương tính với thụ thể hormone và có di căn xươngBAYERBác sĩ Wong Nan Soon3Đã đóngXofigo/ Thuốc giả dược + exemestane + everolimus
B3Ung thư vúMột nghiên cứu giai đoạn III, mù đôi, ngẫu nhiên, nhóm song song nhằm chứng minh hiệu quả tương đương và độ an toàn tương đương giữa CT-P6 và Herceptin, cả hai đều được dùng kết hợp với paclitaxel, ở bệnh nhân ung thư vú di cănCELLTRION/ PAREXEBác sĩ Peter Ang Cher Siang3Đã đóngHerceptin/CT-P6 + Paclitaxel
B4Ung thư vúNghiên cứu so sánh phác đồ Neratinib kết hợp với Capecitabine với phác đồ Lapatinib kết hợp với Capecitabine ở bệnh nhân ung thư vú di căn HER2+ đã từng được điều trị bằng hai phác đồ nhắm mục tiêu HER2 trở lên trong giai đoạn di căn (NALA)PUMA/ NOVETECHBác sĩ Peter Ang Cher Siang3Đã đóngNeratinib + Capecitabine so với Lapatinib + Capecitabine
B5Ung thư vúMột nghiên cứu ngẫu nhiên, giai đoạn II, đa trung tâm, có nhóm đối chứng dùng giả dược về Ipatasertib (GDC-0068) – một chất ức chế AKT – kết hợp với Paclitaxel như phương pháp điều trị tuyến đầu cho bệnh nhân ung thư vú ba âm tính di cănGENENTECBác sĩ Peter Ang Cher Siang2Đã đóngGDC_0068+ Paclitaxel
B6Ung thư vúNghiên cứu ngẫu nhiên giai đoạn II so sánh phác đồ kết hợp Ribociclib và Goserelin Acetate với liệu pháp nội tiết so với hóa trị do bác sĩ lựa chọn ở bệnh nhân tiền mãn kinh hoặc cận mãn kinh mắc ung thư vú dương tính với thụ thể hormone/âm tính với HER2, ở giai đoạn tiến triển tại chỗ không thể phẫu thuật hoặc di căn – Nghiên cứu Right ChoiceNovartisBác sĩ Peter Ang Cher Siang2Đã đóngRibociclib + Goserelin Acetate + Letrozole/Anastrozole so với Doce+Cape hoặc Pac+Gem hoặc Cape+Vino

Các câu hỏi thường gặp​

Vấn đề đạo đức nào cần được xem xét khi tiến hành các thử nghiệm lâm sàng về phương pháp điều trị ung thư?

Các vấn đề đạo đức trong việc tiến hành các thử nghiệm lâm sàng về điều trị ung thư bao gồm việc tôn trọng quyền tự quyết của bệnh nhân, công bằng, lòng nhân ái và không gây hại. Những nguyên tắc này được tuân thủ với các quy trình như sự đồng ý có hiểu biết (được cung cấp thông tin đầy đủ), nhằm đảm bảo người tham gia hiểu đầy đủ về thử nghiệm, lợi ích và rủi ro tiềm ẩn, và quyền rút lui của người tham gia vào bất cứ thời điểm nào. Các nhà nghiên cứu cũng đảm bảo rằng các thử nghiệm mang lại lợi ích tiềm năng cho nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau, đồng thời giảm thiểu tác hại trong khi tối đa hóa lợi ích.

Các thử nghiệm lâm sàng về liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư, giống như bất kỳ phương pháp điều trị nào, đều có thể tiềm ẩn rủi ro hoặc tác dụng phụ. Các tác dụng phụ này có thể từ các triệu chứng nhẹ như mệt mỏi hoặc buồn nôn đến các triệu chứng nghiêm trọng hơn như các biến cố bất lợi liên quan đến hệ miễn dịch. Các tác dụng phụ cụ thể sẽ phụ thuộc vào loại liệu pháp miễn dịch cụ thể được sử dụng, và điều này sẽ được giải thích chi tiết cho người tham gia trước khi họ đồng ý tham gia thử nghiệm.

Trong suốt quá trình thử nghiệm lâm sàng, các tác dụng phụ của thuốc liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư được ghi chép và theo dõi một cách tỉ mỉ. Bệnh nhân được kiểm tra định kỳ và được hỏi về bất kỳ triệu chứng nào mà bệnh nhân đang bị. Và các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm thường được thực hiện để phát hiện bất kỳ thay đổi về thể chất có thể là dấu hiệu của tác dụng phụ. Việc theo dõi chặt chẽ giúp đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và hỗ trợ việc đánh giá tác động của phương pháp điều trị.

Sau khi bệnh nhân hoàn thành một thử nghiệm lâm sàng về liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư, có thể có tác động lâu dài hoặc các vấn đề cần theo dõi phụ thuộc vào phương pháp điều trị cụ thể được thử nghiệm. Vấn đề có thể bao gồm theo dõi liên tục các tác động sau đó của phương pháp điều trị hoặc đánh giá hiệu quả lâu dài của liệu pháp. Nhóm nghiên cứu cung cấp cho người tham gia về kế hoạch theo dõi chi tiết khi cần thiết.

Việc đảm bảo an toàn cho người tham gia là ưu tiên hàng đầu trong các thử nghiệm lâm sàng. Trước khi tiến hành thử nghiệm, phác đồ nghiên cứu được Hội đồng Đánh giá Đạo đức Nghiên cứu (IRB) xem xét kỹ lưỡng. IRB bao gồm các thành viên thuộc lĩnh vực y tế và phi y tế, có nhiệm vụ đảm bảo rằng thử nghiệm không gây ra bất kỳ rủi ro không cần thiết nào cho người tham gia.

Người tham gia được yêu cầu ký vào đơn “đồng ý sau khi được thông báo đầy đủ”, trong đó ghi rõ bản chất của thử nghiệm, các rủi ro tiềm ẩn và các thủ tục liên quan. Tài liệu này giúp người tham gia hiểu rõ những điều liên quan đến việc tham gia của mình. Cần lưu ý là sự đồng ý này được dựa trên cơ sở tự nguyện, và người tham gia có quyền rút lui bất cứ lúc nào trong quá trình thử nghiệm mà không chịu bất kì hình thức xử phạt nào. 

Tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt ở cấp quốc gia và quốc tế, các thử nghiệm lâm sàng đảm bảo quyền riêng tư và các quyền lợi của người tham gia. Thông tin cá nhân và y tế của người tham gia được bảo mật tuyệt đối, và thông tin có thể nhận dạng thường được thay thế bằng mã số trong hồ sơ thử nghiệm nhằm bảo vệ quyền riêng tư. 

Ngoài ra, kết quả của thử nghiệm lâm sàng thường được trình bày theo cách không thể xác định danh tính của từng người tham gia. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình bảo vệ quyền riêng tư này không chỉ tôn trọng quyền lợi của người tham gia mà còn góp phần củng cố niềm tin vào quy trình thử nghiệm lâm sàng. 

Các câu hỏi thường gặp về các thử nghiệm lâm sàng tại Singapore

Vấn đề đạo đức nào cần được xem xét khi tiến hành các thử nghiệm lâm sàng về phương pháp điều trị ung thư?
Các vấn đề đạo đức trong việc tiến hành các thử nghiệm lâm sàng về điều trị ung thư bao gồm việc tôn trọng quyền tự quyết của bệnh nhân, công bằng, lòng nhân ái và không gây hại. Những nguyên tắc này được tuân thủ với các quy trình như sự đồng ý có hiểu biết (được cung cấp thông tin đầy đủ), nhằm đảm bảo người tham gia hiểu đầy đủ về thử nghiệm, lợi ích và rủi ro tiềm ẩn, và quyền rút lui của người tham gia vào bất cứ thời điểm nào. Các nhà nghiên cứu cũng đảm bảo rằng các thử nghiệm mang lại lợi ích tiềm năng cho nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau, đồng thời giảm thiểu tác hại trong khi tối đa hóa lợi ích.
Các thử nghiệm lâm sàng về liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư, giống như bất kỳ phương pháp điều trị nào, đều có thể tiềm ẩn rủi ro hoặc tác dụng phụ. Các tác dụng phụ này có thể từ các triệu chứng nhẹ như mệt mỏi hoặc buồn nôn đến các triệu chứng nghiêm trọng hơn như các biến cố bất lợi liên quan đến hệ miễn dịch. Các tác dụng phụ cụ thể sẽ phụ thuộc vào loại liệu pháp miễn dịch cụ thể được sử dụng, và điều này sẽ được giải thích chi tiết cho người tham gia trước khi họ đồng ý tham gia thử nghiệm.
Trong suốt quá trình thử nghiệm lâm sàng, các tác dụng phụ của thuốc liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư được ghi chép và theo dõi một cách tỉ mỉ. Bệnh nhân được kiểm tra định kỳ và được hỏi về bất kỳ triệu chứng nào mà bệnh nhân đang bị. Và các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm thường được thực hiện để phát hiện bất kỳ thay đổi về thể chất có thể là dấu hiệu của tác dụng phụ. Việc theo dõi chặt chẽ giúp đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và hỗ trợ việc đánh giá tác động của phương pháp điều trị.
Sau khi bệnh nhân hoàn thành một thử nghiệm lâm sàng về liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư, có thể có tác động lâu dài hoặc các vấn đề cần theo dõi phụ thuộc vào phương pháp điều trị cụ thể được thử nghiệm. Vấn đề có thể bao gồm theo dõi liên tục các tác động sau đó của phương pháp điều trị hoặc đánh giá hiệu quả lâu dài của liệu pháp. Nhóm nghiên cứu cung cấp cho người tham gia về kế hoạch theo dõi chi tiết khi cần thiết.

Việc đảm bảo an toàn cho người tham gia là ưu tiên hàng đầu trong các thử nghiệm lâm sàng. Trước khi tiến hành thử nghiệm, phác đồ nghiên cứu được Hội đồng Đánh giá Đạo đức Nghiên cứu (IRB) xem xét kỹ lưỡng. IRB bao gồm các thành viên thuộc lĩnh vực y tế và phi y tế, có nhiệm vụ đảm bảo rằng thử nghiệm không gây ra bất kỳ rủi ro không cần thiết nào cho người tham gia.

Người tham gia được yêu cầu ký vào đơn “đồng ý sau khi được thông báo đầy đủ”, trong đó ghi rõ bản chất của thử nghiệm, các rủi ro tiềm ẩn và các thủ tục liên quan. Tài liệu này giúp người tham gia hiểu rõ những điều liên quan đến việc tham gia của mình. Cần lưu ý là sự đồng ý này được dựa trên cơ sở tự nguyện, và người tham gia có quyền rút lui bất cứ lúc nào trong quá trình thử nghiệm mà không chịu bất kì hình thức xử phạt nào.

Tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt ở cấp quốc gia và quốc tế, các thử nghiệm lâm sàng đảm bảo quyền riêng tư và các quyền lợi của người tham gia. Thông tin cá nhân và y tế của người tham gia được bảo mật tuyệt đối, và thông tin có thể nhận dạng thường được thay thế bằng mã số trong hồ sơ thử nghiệm nhằm bảo vệ quyền riêng tư.

Ngoài ra, kết quả của thử nghiệm lâm sàng thường được trình bày theo cách không thể xác định danh tính của từng người tham gia. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình bảo vệ quyền riêng tư này không chỉ tôn trọng quyền lợi của người tham gia mà còn góp phần củng cố niềm tin vào quy trình thử nghiệm lâm sàng.