Chẩn đoán & Điều trị Ung thư Đầu - cổ ở Singapore

Điều trị Ung thư Đầu - cổ ở Singapore

Các phương pháp điều trị ung thư đầu – cổ ở người trưởng thành: ung thư mũi họng, ung thư họng miệng, ung thư hạ họng, ung thư khoang miệng và môi, và ung thư tuyến nước bọt.

Nếu ung thư được phát hiện sớm, thì nhiều ung thư đầu – cổ có khả năng được chữa khỏi bệnh. Loại bỏ ung thư triệt để là mục tiêu điều trị chính, nhưng bảo tồn chức năng của các dây thần kinh, các cơ quan và mô gần đó là rất quan trọng. Khi thiếp lập phác đồ điều trị, bác sĩ ung thư đánh giá phương pháp điều trị nào có thể có được chất lượng sống tốt hơn cho người bệnh, như về cảm giác, nhìn, nói, ăn và thở của người bệnh.

Thông thường, các phương pháp điều trị chính cho ung thư đầu – cổ là phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, liệu pháp đích, và liệu pháp miễn dịch. Phẫu thuật hoặc xạ trị riêng (đơn thuần) hoặc kết hợp các phương pháp điều trị đó, có thể là một phần trong kế hoạch điều trị bệnh.

Quyết định chọn phương pháp điều trị và khuyến nghị của bác sĩ phụ thuộc vào các yếu tố, bao gồm có loại (thể bệnh) và giai đoạn ung thư đầu – cổ, tác dụng phụ khi điều trị, và tình trạng sức khỏe và mong muốn của người bệnh. Điều trị chi tiết hơn có thể được mô tả ở phía dưới theo mỗi loại ung thư đầu – cổ cụ thể.

Ung thư mũi họng (NPC, ung thư mũi)

Mũi họng là lối đi cho dòng khí di chuyển ở phần trên của họng sau mũi.

Điều trị tiêu chuẩn chăm sóc cho người bệnh ung thư mũi họng (NPC) giai đoạn sớm là xạ trị riêng (đơn thuần). Đối với ung thư mũi họng (NPC) tiến triển tại chỗ thì điều trị kết hợp hóa trị và xạ trị. Phẫu thuật ít khi là phương pháp điều trị trừ khi đó là điều trị cứu vớt/ung thư tái phát. Đó là vì ung thư mũi họng (NPC) nhạy cảm cao với xạ trị và hóa trị.

Ung thư Đầu – cổ

Phẫu thuật ung thư đầu – cổ để loại bỏ khối u và một ít mô khỏe mạnh xung quanh khối u, được biết đến là diện cắt của phẫu thuật. Mục tiêu quan trọng nhất của phẫu thuật là loại bỏ được toàn bộ khối u với “rìa âm tính”. Rìa âm tính là không có dấu vết ung thư ở mô khỏe mạnh của diện cắt.

Một số phương thức phẫu thuật phổ biến để loại bỏ ung thư đầu – cổ:

  • Phẫu thuật khối u nguyên phát: khối u và rìa mô khỏe mạnh xung quanh khối u được loại bỏ để giảm nguy cơ có bất kì các tế bào ung thư nào bị bỏ sót. Khối u có thể được cắt qua miệng hoặc qua vết mổ ở cổ. Phẫu thuật có thể cần cắt xương hàm dưới, trong đó xương hàm được chia tách để cho phép bác sĩ phẫu thuật tiếp cận được khối u.
  • Phẫu thuật cắt lưỡi: là cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ lưỡi.
  • Phẫu thuật cắt xương hàm dưới: nếu khối u xâm lấn vào xương hàm nhưng không lan vào xương, do đó một đoạn xương hàm hoặc toàn bộ xương hàm cần được loại bỏ. Có thể cần loại bỏ toàn bộ xương nếu có bằng chứng về phá hoại xương hàm trong hình ảnh chụp X quang.
  • Phẫu thuật cắt xương hàm trên: là phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ khẩu cái cứng (xương vòm miệng). Thay thế bằng phần giả (nhân tạo), hoặc sử dụng các vạt mô mềm có hoặc không có xương để có thể lấp đầy các khoảng trống bị tạo trong quá trình phẫu thuật.
  • Nạo vét hạch cổ: ung thư họng miệng thường lan truyền đến các hạch bạch huyết ở cổ. Tránh ung thư lan đến các hạch bạch huyết là mục tiêu quan trọng khi điều trị. Nạo vét hạch cổ có thể cần để loại bỏ một số hoặc toàn bộ các hạch bạch huyết bị ảnh hưởng bởi ung thư. Đôi khi, ở ung thư họng miệng, nạo vét hạch cổ được khuyến nghị tiến hành sau xạ trị hoặc hóa xạ trị.
  • Phẫu thuật cắt thanh quản: là phẫu thuật cắt bỏ bán phần hoặc hoàn toàn thanh quản, thường được gọi là hộp thanh âm. Thanh quản có vai trò quan trọng trong tạo âm thanh, thanh quản có vai trò khi nuốt vì thanh quản bảo vệ đường hô hấp không bị thức ăn và chất lỏng đi vào khí quản và vào phổi, có thể gây viêm phổi. Phẫu thuật cắt thanh quản hiếm khi cần cho điều trị ung thư họng miệng. Nhưng nếu có khối u lớn ở lưỡi hoặc họng miệng, thì bác sĩ có thể cần loại bỏ thanh quản để bảo vệ đường hô hấp khi nuốt.
  • Phẫu thuật robot qua tiền đình miệng/Vi phẫu laser qua tiền đình miệng: Phẫu thuật robot qua tiền đình miệng (TORS) và vi phẫu laser qua tiền đình miệng (TLM) là kỹ thuật phẫu thuật xâm lấn tối thiểu. Đó là quá trình phẫu thuật không cần vết mổ lớn (mổ mở) để tiếp cận và loại bỏ khối u. Với TORS, nội soi để quan sát khối u ở họng, đáy lưỡi, và amidan. Bác sĩ phẫu thuật được trợ giúp với hai công cụ robot nhỏ để loại bỏ khối u. Với TLM, nội soi kết hợp với laser được đi vào qua đường miệng. Laser với ánh sáng cường độ cao để loại bỏ khối u.

Ung thư thanh quản (ung thư họng)

Cần xem xét kĩ đối với ung thư thanh quản về phẫu thuật ung thư thanh quản truyền thống với việc cắt thanh quản có loại bỏ các dây thanh âm. Có nhiều nghiên cứu tập trung vào bảo vệ giọng nói của người bệnh và do đó tiêu chuẩn chăm sóc người bệnh là sử dụng hóa xạ trị đồng thời. Phẫu thuật thường là phương pháp được chọn cuối cùng đối với người bệnh với chức năng thanh âm kém, không thể hồi phục được, khối u tái phát ở thanh quản hoặc đường hô hấp.

Đối với phẫu thuật ung thư hạ họng, bác sĩ ung thư phẫu thuật loại bỏ khối u (ung thư) và một ít mô khỏe mạnh xung quanh khối u, được gọi là diện cắt phẫu thuật.

Các phương thức phẫu thuật phổ biến nhất để điều trị ung thư hạ họng là:

  • Phẫu thuật cắt thanh quản bán phần: là loại bỏ một phần thanh quản, điều đó giúp bảo vệ giọng nói tự nhiên của người bệnh. Có một số loại phẫu thuật cắt thanh quản bán phần khác nhau:
  • Phẫu thuật cắt thanh quản trên thanh môn: cắt bỏ vùng trên dây thanh âm.
  • Phẫu thuật cắt dây thanh âm: cắt bỏ dây thanh âm.
  • Phẫu thuật cắt thanh quản bán phần chiều dọc: cắt bỏ một bên của thanh quản.
  • Phẫu thuật cắt thanh quản bán phần trên sụn nhẫn: cắt bỏ dây thanh âm và vùng xung quanh dây thanh âm.
  • Phẫu thuật cắt toàn bộ thanh quản: phẫu thuật loại bỏ toàn bộ thanh quản. Trong quá trình phẫu thuật, một hố được gọi là lỗ khí được tạo ở trước cổ qua khí quản, giúp người bệnh có thể thở. Có thể gọi là phẫu thuật mở khí quản. Vì dây thanh âm bị loại bỏ, người bệnh không thể nói dài bằng cách sử dụng dây thanh âm sau khi phẫu thuật cắt toàn bộ thanh quản.
  • Phẫu thuật cắt thanh quản họng: cắt bỏ toàn bộ thanh quản, bao gồm có dây thanh âm, và một phần hoặc toàn bộ họng.
  • Nạo vét hạch cổ: nếu ung thư có lan truyền đến các hạch bạch huyết ở cổ, một số hạch bạch huyết bị ung thư có thể cần được phẫu thuật loại bỏ, được gọi là nạo vét hạch. Có một số loại nạo vét hạch cổ, như nạo vét hạch cổ bán phần, nạo vét hạch cổ biến đổi hoặc nạo vét hạch cổ chọn lọc. Phụ thuộc vào giai đoạn và vị trí ung thư, một số hoặc toàn bộ các hạch bạch huyết ở cổ có thể cần loại bỏ.

Ung thư khoang miệng và môi

Phẫu thuật thường là phương pháp điều trị cho tất cả các giai đoạn ung thư khoang miệng và môi.

Giống với ung thư họng miệng, thì có các phương thức phẫu thuật phổ biến để điều trị ung thư khoang miệng và môi là:

  • Phẫu thuật cắt rộng khối u: phẫu thuật loại bỏ khối u (ung thư) và một ít mô khỏe mạnh xung quanh khối u. Nếu ung thư lan vào xương, thì phẫu thuật có thể bao gồm loại bỏ mô xương bị ung thư.
  • Nạo vét hạch cổ: Ung thư khoang miệng và môi thường lan truyền đến các hạch bạch huyết ở cổ. Mục tiêu quan trọng khi điều trị là phòng tránh ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết. Do đó có thể cần loại bỏ một số hoặc toàn bộ hạch bạch huyết trong quá trình phẫu thuật được gọi là nạo vét hạch cổ. Đôi khi với ung thư họng miệng, nạo vét hạch cổ có thể được khuyến nghị sau khi xạ trị hoặc hóa xạ trị.
  • Phẫu thuật khối u nguyên phát: khối u và rìa mô khỏe mạnh xung quanh khối u được loại bỏ để giảm nguy cơ có các tế bào ung thư bị bỏ sót. Khối u có thể được loại bỏ qua đường miệng hoặc qua vết mổ ở cổ. Phẫu thuật có thể cần cắt xương hàm dưới, trong đó xương hàm được chia tách để cho phép bác sĩ phẫu thuật tiếp cận được khối u.
  • Phẫu thuật cắt lưỡi: là cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ lưỡi.
  • Phẫu thuật cắt xương hàm dưới: nếu khối u xâm lấn vào xương hàm nhưng không lan vào xương, do đó một đoạn xương hàm hoặc toàn bộ xương hàm cần được loại bỏ. Có thể cần loại bỏ toàn bộ xương nếu có bằng chứng về phá hoại xương hàm trong hình ảnh chụp X quang.
  • Phẫu thuật cắt xương hàm trên: là phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ khẩu cái cứng (xương vòm miệng). Thay thế bằng phần giả (nhân tạo), hoặc sử dụng các vạt mô mềm có hoặc không có xương để có thể lấp đầy các khoảng trống bị tạo trong quá trình phẫu thuật.
  • Phẫu thuật robot qua tiền đình miệng/Vi phẫu laser qua tiền đình miệng: Phẫu thuật robot qua tiền đình miệng (TORS) và vi phẫu laser qua tiền đình miệng (TLM) là kỹ thuật phẫu thuật xâm lấn tối thiểu. Đó là quá trình phẫu thuật không cần vết mổ lớn (mổ mở) để tiếp cận và loại bỏ khối u. Với TORS, nội soi để quan sát khối u ở họng, đáy lưỡi, và amidan. Bác sĩ phẫu thuật được trợ giúp với hai công cụ robot nhỏ để loại bỏ khối u. Với TLM, nội soi kết hợp với laser được đi vào qua đường miệng. Laser với ánh sáng cường độ cao để loại bỏ khối u.

Ung thư tuyến nước bọt

Phẫu thuật được đề nghị cho đa số người bệnh bị ung thư tuyến nước bọt và phẫu thuật thường là phương pháp điều trị đầu tiên. Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ tiến hành loại bỏ khối u (ung thư) và một ít mô khỏe mạnh xung quanh khối u.

Các phương thức phẫu thuật để điều trị ung thư tuyến nước bọt:

  • Phẫu thuật cắt tuyến mang tai: là phẫu thuật có thể loại bỏ một phần hoặc toàn bộ tuyến mang tai. Tuyến mang tai ở vị trí mỗi bên miệng (má) và phía trước tai. Đó là tuyến nước bọt lớn nhất trong cơ thể người. Phẫu thuật thường liên quan đến tách dây thần kinh mặt. Nếu ung thư có lan tới dây thần kinh mặt, phẫu thuật thường cần có bước ghép dây thần kinh hoặc tái tạo cấu trúc khác cho người bệnh để có thể điều hướng được các cơ mặt.
  • Phẫu thuật tuyến nước bọt dưới hàm hoặc dưới lưỡi: phụ thuộc vào kích thước và vị trí khối u (tuyến dưới hàm hoặc tuyến dưới lưỡi), bác sĩ phẫu thuật tạo đường cắt ở da người bệnh để loại bỏ toàn bộ tuyến nước bọt đó và mô xung quanh và xương.
  • Phẫu thuật tuyến nước bọt phụ: phụ thuộc vào kích thước và vị trí khối u, bác sĩ phẫu thuật có thể loại bỏ khối u và mô xung quanh khối u. Ung thư tuyến nước bọt phụ thường xuất hiện ở môi, lưỡi, khẩu cái (vòm miệng), miệng, họng, thanh quản, mũi và các xoang của người bệnh.
  • Phẫu thuật nội soi: phẫu thuật nội soi được tiến hành khi mà khối u tuyến nước bọt bắt đầu trong vùng gần mũi (xung quanh mũi) hoặc vùng thanh quản.
  • Nạo vét hạch cổ: ung thư tuyến nước bọt thường lan truyền đến các hạch bạch huyết ở cổ. Nạo vét hạch cổ có thể được tiến hành nếu các hạch bạch huyết ở cổ bị sưng to (thường nhìn thấy ở hình ảnh chụp CT hoặc MRI) hoặc nếu ung thư độ cao và có nguy cơ cao lan truyền đi.
  • Sinh thiết hạch gác: lập bản đồ và sinh thiết hạch gác là cách phổ biến để tìm kiếm bằng chứng về ung thư có lan truyền đến các hạch bạch huyết. Quá trình đó có thể được tiến hành ở một số loại ung thư tuyến nước bọt và có thể giúp người bệnh không cần nạo vét hạch cổ. Lập bản đồ và sinh thiết hạch gác có thể phát hiện các hạch bạch huyết dẫn lưu dịch bạch huyết từ tuyến nước bọt, là vị trí ung thư bắt đầu (vị trí ung thư nguyên phát). Phẫu thuật liên quan đến việc loại bỏ hạch gác và kiểm tra hạch gác có bị ung thư trong quá trình phẫu thuật. Nếu không tìm thấy các tế bào ung thư ở hạch gác thì các hạch bạch huyết khác có thể không cần loại bỏ. Nếu các hạch gác có các tế bào ung thư, thì cần nạo vét hạch cổ.

Xạ trị là phương pháp điều trị sử dụng các tia năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. Phác đồ xạ trị, hoặc liệu trình, thường bao gồm các đợt điều trị trong khoảng thời gian được thiết lập.

Ung thư đầu – cổ bao gồm có ung thư mũi họng, ung thư họng miệng, ung thư hạ họng, ung thư miệng và môi, ung thư tuyến nước bọt

Có các phương pháp xạ trị khác nhau mà bác sĩ có thể đề nghị cho điều trị ung thư mũi họng. Trong quá trình điều trị, xạ trị có thể kết hợp với hóa trị. Khi đó được gọi là điều trị hóa xạ trị đồng thời (xem hóa trị ở phía dưới).

  • Xạ trị ngoài: là phương pháp xạ trị phổ biến nhất trong điều trị ung thư mũi họng. Một kỹ thuật của xạ trị chùm tia ngoài là xạ trị điều biến liều (IMRT), cho phép liều xạ trị hiệu quả hơn được phân bố đến khối u, trong khi giảm tổn hại đến các tế bào khỏe mạnh và gây ít tác dụng phụ hơn.

 

  • Xạ trị proton: xạ trị proton là loại xạ trị ngoài nhưng sử dụng các hạt proton thay cho các tia X. Ở mức năng lượng cao, các hạt proton có thể phá hủy các tế bào ung thư. Liệu pháp proton có thể được tiến hành như là một phần của phác đồ điều trị cho một số khối u ở nền sọ để giảm lượng phóng xạ đến các cấu trúc gần đó, như các dây thần kinh thị giác ở mắt và thân não (cuống não). Liệu pháp proton có thể là lựa chọn cho ung thư mũi họng khi mà ung thư ở vị trí gần với các phần của hệ thần kinh trung ương, trong đó có não và tủy sống.
  • Xạ phẫu lập thể: xạ phẫu lập thể (xạ trị định vị lập thể) vận chuyển phóng xạ đến khối u chính xác hơn. Xạ phẫu lập thể có thể giúp điều trị khối u phát triển vào nền sọ hoặc khối u tái phát ở nền sọ.

Hóa trị là sử dụng các thuốc hoặc hóa chất để tiêu diệt các tế bào ung thư, thường bằng cách hạn chế các tế bào ung thư phát triển, phân chia và tạo nhiều tế bào hơn – thường được biết là liệu pháp toàn thân. Các thuốc hóa trị được đi vào dòng máu để tiếp cận tới các tế bào ung thư ở toàn bộ cơ thể người bệnh.

Người bệnh có thể chỉ dùng một loại thuốc hóa trị hoặc cần kết hợp các loại thuốc ở trong khoảng thời gian trong phác đồ điều trị. Hóa trị có thể là một phần trong quá trình điều trị ung thư mà trong đó có phẫu thuật và/hoặc xạ trị.

Phác đồ hóa trị, hoặc liệu trình, thường bao gồm các chu kỳ được thiết lập trong khoảng thời gian xác định.

Các cách phổ biến để mang thuốc hóa trị vào cơ thể:

  • Một ống truyền tĩnh mạch (IV) được đặt vào tĩnh mạch bằng kim
  • Thuốc dạng viên uống bằng đường miệng
  • Thuốc được tiêm vào cơ, dưới da

Ung thư mũi họng (ung thư họng trên)

Hóa trị có thể được tiến hành sau khi xạ trị để tiêu diệt bất kì tế bào ung thư bị bỏ sót trong cơ thể. Sử dụng hóa trị trước khi xạ trị, trong khi xạ trị hoặc sau khi xạ trị, để giết các tế bào ung thư và giảm nguy cơ ung thư tái phát.

  • Đối với khối u giai đoạn II có lan truyền đến các hạch bạch huyết, bác sĩ có thể đề nghị hóa xạ trị. Hóa xạ trị là khi kết hợp đồng thời hóa trị với xạ trị, được tiến hành trong khoảng thời gian xác định.
  • Đối với ung thư mũi họng giai đoạn III đến giai đoạn IVA, thì bác sĩ đề nghị hóa trị tấn công và hóa xạ trị hoặc hóa xạ trị và hóa trị bổ trợ. Cisplatin là thuốc hóa trị phổ biến nhất được dùng cho điều trị ung thư mũi họng. Các thuốc khác được dùng cho điều trị ung thư mũi họng:
  • Carboplatin (Paraplatin)
  • Paclitaxel (Taxol)
  • Docetaxel (Taxotere)
  • Gemcitabine (Gemzar)

Đối với ung thư đầu – cổ như ung thư họng miệng, ung thư hạ họng, ung thư thanh quản, ung thư miệng/môi (ung thư họng)

Khi sử dụng kết hợp hóa trị với xạ trị được gọi là hóa xạ trị đồng thời, thường được đề nghị cho điều trị ung thư đầu – cổ. Kết hợp hóa xạ trị có thể giúp kiểm soát sự phát triển khối u, và thường có hiệu quả hơn so với chỉ sử dụng một trong hai phương pháp điều trị đó riêng. Trong xạ hóa trị đồng thời, thường sử dụng thuốc hóa trị cisplatin có thể được chọn cho ung thư họng miệng khi mà ung thư có thể lan truyền đến các hạch bạch huyết.

Hóa trị có thể là phương pháp điều trị đầu tiên trước khi phẫu thuật, xạ trị, được gọi là hóa trị tân bổ trợ. Có thể cần hóa trị sau phẫu thuật, xạ trị, được gọi là hóa trị bổ trợ.

Các thuốc hóa trị thường sử dụng cho điều trị ung thư họng miệng, có thể có hoặc không đi với xạ trị:

  • Cisplatin
  • Carboplatin
  • 5-fluorouracil (5-FU)
  • Paclitaxel (Taxol)
  • Docetaxel (Taxotere)


Ung thư tuyến nước bọt

Đối với ung thư tuyến nước bọt, hóa trị hoặc liệu pháp toàn thân thường để điều trị ung thư giai đoạn muộn hơn, khi mà ung thư lan truyền (di căn) hoặc để giảm các triệu chứng của bệnh. Hóa trị có thể giúp thu nhỏ kích thước khối u, nhưng không có khả năng chữa khỏi bệnh ung thư.

Một số thuốc hóa trị được dùng trong điều trị ung thư tuyến nước bọt:

  • Cisplatin
  • Carboplatin
  • 5-fluorouracil (5-FU)
  • Paclitaxel (Taxol)
  • Docetaxel (Taxotere)
  • Vinorelbine (Navelbine)
  • Methotrexate

Các thuốc hóa trị có thể sử dụng riêng (một thuốc) nhưng thường các thuốc đó được sử dụng kết hợp với nhau (từ hai loại thuốc hóa trị).

Liệu pháp miễn dịch, được gọi là liệu pháp sinh học, được thiết kế để tăng cường phản ứng phòng vệ tự nhiên của cơ thể để chiến đấu với ung thư. Liệu pháp miễn dịch sử dụng các chất được tạo bởi chính cơ thể người bệnh hoặc trong phòng thí nghiệm để tăng cường chức năng của hệ thống miễn dịch.

Ung thư mũi họng (ung thư họng trên)

Pembrolizumab (Keytruda) và Nivolumab (Opdivo) là các thuốc có mục tiêu PD-1, một protein điểm kiểm soát trên các tế bào của hệ thống miễn dịch được gọi là các tế bào T, thường kiểm soát các tế bào T không tấn công các tế bào bình thường của cơ thể. Bằng cách khóa PD-1, thuốc của liệu pháp miễn dịch tăng cường phản ứng miễn dịch chống các tế bào ung thư mũi họng. Điều đó mang đến các kết quả mong muốn trong thu nhỏ hoặc làm chậm sự phát triển của các khối u (ung thư) mũi họng.

Các thuốc đó được truyền tĩnh mạch (IV) theo chu kỳ mỗi 2, 3 hoặc 4 tuần một lần. Hai thuốc pembrolizumab và nivolumab được dùng cho điều trị ung thư ở các người bệnh được chọn.

Ung thư đầu – cổ (ung thư biểu mô tế bào vảy) (ở bất kì vị trí nào ở vùng đầu – cổ)

Khi ung thư ở giai đoạn tiến triển hoặc tái phát, liệu pháp miễn dịch là điều trị tiêu chuẩn chăm sóc người bệnh (có hoặc không hóa trị).

Pembrolizumab (Keytruda) và Nivolumab (Opdivo) là các thuốc có mục tiêu PD-1, một protein điểm kiểm soát trên các tế bào của hệ thống miễn dịch, được gọi là các tế bào T, thường kiểm soát các tế bào T không tấn công các tế bào bình thường trong cơ thể. Bằng cách khóa PD-1, thuốc tăng cường phản ứng miễn dịch chống các tế bào ung thư đầu – cổ.

Các thuốc của liệu pháp miễn dịch có thể được sử dụng đơn trị liệu hoặc kết hợp với hóa trị và theo các bước điều trị (như là bước điều trị đầu tiên hoặc các bước điều trị tiếp theo). Phương pháp điều trị đó cho thấy tăng tỷ lệ sống của người bệnh so với điều trị truyền thống.

Liệu pháp đích là phương pháp điều trị có đích là các gen đặc thù của khối u, các protein, hoặc mô xung quanh đóng góp vào sự phát triển và sống sót của ung thư. Liệu pháp đích hạn chế sự phát triển và lan truyền của các tế bào ung thư và ít gây tổn thương các tế bào khỏe mạnh.

Các khối u có đích không giống nhau. Để tìm kiếm phương pháp điều trị hiệu quả nhất, bác sĩ có thể tiến hành các xét nghiệm để nhận biết các gen, các protein, và các yếu tố khác về khối u của người bệnh. Điều đó giúp bác sĩ thiết kế điều trị tốt nhất cho mỗi người bệnh. Bên cạnh đó, thì các nghiên cứu khoa học tiếp tục tìm kiếm nhiều hơn về các đích phân tử đặc thù và phương pháp điều trị mới có đích trực tiếp vào phân tử đó.

Các bệnh ung thư đầu – cổ

Cetuximab là một thuốc của liệu pháp đích được tạo từ kháng thể đơn dòng (là một dạng nhân tạo của một protein của hệ thống miễn dịch) có đích là thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). EGFR là protein được tìm thấy trên bề mặt của các tế bào. EGFR thường nhận các tín hiệu thông báocho các tế bào phát triển và phân chia. Các tế bào ung thư đầu – cổ có khi có lượng EGFR nhiều hơn bình thường, có thể giúp các tế bào ung thư phát triển nhanh hơn. Do đó, bằng cách khóa EGFR, cetuximab có thể làm chậm hoặc dừng sự phát triển đó.

Trong quá trình điều trị ung thư đầu – cổ, cetuximab có thể kết hợp với xạ trị cho một số ung thư giai đoạn tiến triển tại chỗ. Đối với ung thư tiến triển hơn, có thể kết hợp với các thuốc hóa trị tiêu chuẩn như cisplatin và 5FU.

Cetuximab được truyền theo đường tĩnh mạch (IV).

Tác dụng phụ khi Điều trị Ung thư Đầu - cổ

Các tác dụng phụ phổ biến nhất của nạo vét hạch cổ là tê tai, yếu khi vận động cánh tay lên trên đầu. Phẫu thuật có thể gây tổn thương dây thần kinh và có thể có tác dụng phụ. Sau khi nạo vét hạch cổ chọn lọc, yếu vai thường biến mất dần sau một số tháng. Nhưng, nếu loại bỏ dây thần kinh ở vùng đó như là một phần của nạo vét hạch cổ triệt căn hoặc vì liên quan đến khối u, thì người bệnh bị yếu suốt đời.

Người bệnh có thể cần liệu pháp vận động (vật lý trị liệu) để tăng sức mạnh và chuyển động của vai và cổ nếu người bệnh nạo vét hạch cổ rộng hơn.

Phẫu thuật ung thư họng miệng, khi mà ung thư lớn hoặc khó tiếp cận khối u thì phẫu thuật có thể rất phức tạp. Các tác dụng phụ có thể bao gồm nhiễm trùng, vỡ vết thương, các vấn đề về ăn uống, thở, và nói. Phẫu thuật có thể gây biến dạng, đặc biệt khi xương ở mặt hoặc hàm cần loại bỏ.

  • Tác động của phẫu thuật cắt lưỡi: Đa số người bệnh có thể nói được nếu chỉ cắt bỏ một phần lưỡi, nhưng giọng nói không thể rõ ràng. Vì lưỡi có vai trò quan trọng khi nuốt, khả năng nói có thể bị ảnh hưởng nhưng thường có thể cải thiện vấn đề đó với liệu pháp nói (trị liệu ngôn ngữ).

Khi cắt bỏ toàn bộ lưỡi, người bệnh mất khả năng nói và nuốt. Khi phẫu thuật tái tạo cấu trúc và chương trình phục hồi chức năng tốt bao gồm liệu pháp nói, một số người bệnh có thể có khả năng nuốt và nói tốt hơn đủ để hiểu được.

  • Tác động của phẫu thuật cắt thanh quản: phẫu thuật cắt thanh quản khiến người bệnh không có phương tiện nói bình thường vì phẫu thuật loại bỏ thanh quản. Sau phẫu thuật cắt thanh quản, người bệnh thở qua ống mở khí quản (lỗ mở khí quản) ở vị trí trước cổ dưới. Khi có lỗ mở khí quản thì không khí mà người bệnh thở không đi qua mũi hoặc miệng, thường giúp làm ẩm, làm ấm và lọc không khí (lọc chất bẩn). Vì thế không khí đi đến phổi sẽ khô và lạnh hơn, có thể gây kích thích lớp lót bề mặt đường hô hấp và tạo dịch nhầy dầy hoặc cứng.
  • Tác động của phẫu thuật cắt xương mặt: một số ung thư ở đầu – cổ cần được điều trị với phẫu thuật cắt bỏ một phần tổ chức xương mặt. Do đó có thể có tác động gây biến dạng mặt người bệnh khi mà các thay đổi có thể nhìn thấy được. Và có thể ảnh hưởng đến giọng nói và nuốt của người bệnh.

Người bệnh bị cắt bỏ thanh quản hoặc cắt bỏ thanh quản họng thường mất khả năng nói bình thường. Phẫu thuật liên quan đến họng hoặc thanh quản có thể gây thu hẹp dần họng hoặc thanh quản. Đôi khi có thể gây cho người bệnh khó thở và có thể cần lỗ mở khí quản.

Các phẫu thuật liên quan đến họng hoặc thanh quản có thể khiến người bệnh khó nuốt hơn. Từ đó có thể ảnh hưởng đến cách người bệnh ăn uống và tình trạng có thể nặng đến mức cần ống cho ăn suốt đời.

Phẫu thuật cắt thanh quản và phẫu thuật thanh quản họng có thể kéo theo sự phát triển của đường rò (là đường mở bất thường giữa hai vùng không kết nối một cách bình thường). Phẫu thuật bổ sung có thể cần thiết để sửa chữa hiện tượng rò đó.

Một biến chứng khác rất hiếm nhưng nghiêm trọng khi nạo vét hạch cổ là vỡ động mạch cảnh (là động mạch lớn ở hai bên cổ).

Phẫu thuật ung thư khoang miệng và môi thường gây sưng, khó thở. Phẫu thuật có thể gây mất giọng nói hoặc khiếm khuyết giọng nói suốt đời; khó nhai, nuốt, hoặc nói; tê tai; yếu khi di chuyển cánh tay lên trên đầu; thiếu chuyển động của môi dưới; và các thay đổi biểu hiện trên mặt của người bệnh. Phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến chức năng của tuyến giáp, đặc biệt sau khi phẫu thuật cắt toàn bộ thanh quản.

Đối với phẫu thuật ung thư tuyến nước bọt, bác sĩ phẫu thuật có thể cần cắt qua da của người bệnh hoặc cắt bên trong miệng.

Nếu dây thần kinh mặt bị tổn hại trong quá trình phẫu thuật, người bệnh mất kiểm soát các cơ mặt ở bên phía tiến hành phẫu thuật. Phía mặt đó có thể sụp xuống. Nếu tổn thương đến dây thần kinh mặt liên quan đến co rút (kéo) dây thần kinh trong khi phẫu thuật và/hoặc sưng do phẫu thuật, thì tổn thương có thể giảm dần theo thời gian.

Đôi khi, các dây thần kinh bị cắt trong khi phẫu thuật phát triển trở lại theo cách bất thường và kết nối với tuyến mồ hôi ở mặt. Tình trạng đó được gọi là hội chứng Frey hoặc đổ mồ hôi vị giác, có cảm giác nóng hoặc tiết mồ hôi ở vùng mặt khi người bệnh nhai thức ăn. Hội chứng Frey có thể điều trị được bằng thuốc hoặc phẫu thuật bổ sung.

Tổn thương đến các dây thần kinh khác ở mặt hoặc miệng có thể gây các vấn đề về chuyển động lưỡi, giọng nói, hoặc nuốt.

Phụ thuộc vào mức độ phẫu thuật, có thể có sự thay đổi trong biểu hiện của người bệnh do tác động của phẫu thuật. Các biểu hiện đó có thể là sẹo ở bên mặt hoặc cổ đến các thay đổi nặng hơn nếu các dây thần kinh, các phần xương, hoặc các tổ chức khác bị cắt bỏ.

Các tác dụng phụ khi xạ trị cho ung thư mũi họng, ung thư họng miệng, ung thư hạ họng, ung thư khoang miệng và môi, ung thư tuyến nước bọt ở người trưởng thành.

Các tác dụng phụ có thể có khi xạ trị phụ thuộc vào vị trí cần xạ trị. Các tác dụng phụ phổ biến do xạ trị là:

  • Kích ứng da (ở các vùng xạ trị, từ tấy đỏ, phồng rộp, và bong tróc da)
  • Rụng tóc
  • Mệt mỏi
  • Buồn nôn
  • Tiêu chảy
  • Lượng tế bào máu giảm thấp
  • Tăng nguy cơ nhiễm trùng
  • Loét miệng và nướu/khó nuốt/khô miệng
  • Phù bạch huyết

Các tác dụng phụ khi hóa trị cho ung thư mũi họng, ung thư họng miệng, ung thư hạ họng, ung thư khoang miệng và môi, ung thư tuyến nước bọt ở người trưởng thành.

Các tác dụng phụ thường có khi hóa trị là:

  • Buồn nôn và nôn ói
  • Tiêu chảy
  • Táo bón
  • Mệt mỏi
  • Đau
  • Chán ăn
  • Rụng tóc
  • Các thay đổi ở da và móng
  • Tê và ngứa ran
  • Sưng
  • Lượng bạch cầu thấp, lượng hồng cầu thấp và lượng tiểu cầu thấp
  • Nguy cơ nhiễm trùng
  • Nguy cơ vô sinh

Các tác dụng phụ của liệu pháp miễn dịch cho ung thư mũi họng, ung thư họng miệng, ung thư hạ họng, ung thư khoang miệng và môi, ung thư tuyến nước bọt ở người trưởng thành.

Các tác dụng phụ của liệu pháp miễn dịch có thể có:

  • Buồn nôn và nôn ói
  • Tiêu chảy
  • Táo bón
  • Phát ban và các thay đổi ở da khác
  • Hiếm hơn là có các vấn đề về thở

Các tác dụng phụ của liệu pháp đích điều trị ung thư mũi họng, ung thư họng miệng, ung thư hạ họng, ung thư khoang miệng và môi, ung thư tuyến nước bọt ở người trưởng thành.

Phụ thuộc vào các thuốc đích được sử dụng, có thể có các tác dụng phụ:

  • Huyết áp thấp hoặc cao
  • Tăng mức đường huyết hoặc cholesterol
  • Mệt mỏi
  • Buồn nôn và nôn ói
  • Tiêu chảy
  • Chán ăn và giảm cân nặng
  • Các thay đổi giọng nói
  • Phát ban da/loét miệng
  • Sưng ở cánh tay và chân (tích tụ dịch)
  • Táo bón

Cần làm gì khi bị Ung thư Đầu - cổ?

Ung thư đầu – cổ mô tả một số loại khối u ác tính khác nhau phát triển trong hoặc xung quanh họng, thanh quản, mũi, các xoang, và miệng. Khối u ác tính có tính chất ung thư, điều đó cho thấy khối u có thể phát triển và lan truyền đến các phần khác của cơ thể.

Nếu nghi ngờ bị ung thư đầu – cổ, thì người bệnh cần đi khám bởi các bác sĩ ung thư ở trung tâm ung thư uy tín để có được sự hỗ trợ cần thiết. Phát hiện sớm và chẩn đoán ung thư đầu – cổ có vai trò quan trọng trong điều trị bệnh.

Cho dù ung thư đầu – cổ có thể đang ở bất kì giai đoạn nào, thì người bệnh cần có cuộc trao đổi (đi khám bệnh) với bác sĩ có chuyên môn về ung thư đầu – cổ sớm nhất có thể. Với tốc độ phát triển trong chẩn đoán và điều trị ung thư đầu – cổ, các phương pháp điều trị mới có thể được tiến hành bởi các bác sĩ ung thư uy tín.

Các bác sĩ ung thư ở Trung tâm Ung thư OncoCare có chuyên môn và kinh nghiệm trong điều trị ung thư đầu – cổ giai đoạn sớm, giai đoạn tiến triển và giai đoạn muộn.

Bác sĩ Điều trị Ung thư Đầu - cổ ở Singapore

Chuyên gia cao cấp, Bác sĩ Ung thư

Cử nhân Y khoa và Cử nhân Phẫu thuật (Singapore) – Thạc sĩ Y (Singapore) – Thành viên Trường Y Hoàng gia (Vương quốc Anh) – Học viện Y khoa Singapore (Ung thư)

Bác sĩ Leong Swan Swan học Đại học về Y ở Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và có bằng Thạc sĩ Y (Nội khoa), NUS và là thành viên Trường Y Hoàng gia (Vương quốc Anh) năm 1995. Bác sĩ bắt đầu được đào tạo chuyên sâu về ung thư năm 1995, và được trao Giải thưởng HMDP cho đào tạo cao hơn, với tập trung vào Ung thư lồng ngực dưới hướng dẫn của Bác sĩ Mark Green ở Trung tâm Ung thư Holling’s năm 1997. Năm 2000, bác sĩ Leong được công nhận chuyên gia về ung thư và có chứng nhận của Hiệp hội Ung thư châu Âu (ESMO).

Bác sĩ Leong làm việc ở Khoa Ung thư ở Bệnh viện Tổng hợp Singapore / Trung tâm Ung thư Quốc gia từ năm 1995. Bác sĩ cung cấp dịch vụ chăm sóc ung thư tốt nhất cho nhiều người bệnh bị ung thư, bao gồm các loại ung thư: ung thư vú, ung thư đại trực tràng và ung thư dạ dày, ung thư phổi, ung thư đầu – cổ, ung thư buồng trứng/tử cung/cổ tử cung, u lympho và các khối u rắn đặc khác. Trước khi hành nghề ở khu vực tư nhân, bác sĩ Leong là chuyên gia cao cấp, quản lý nhiều loại ung thư khác nhau và tham gia vào Hội đồng Chăm sóc Ung thư đa ngành, được công nhận là một bác sĩ chuyên khoa ung thư có kinh nghiệm chính về ung thư phổi và ung thư đầu – cổ. Bác sĩ là chuyên gia được mời ở Bệnh viện Tổng hợp Changi. Bác sĩ điều hành Nhóm điều trị cấp cứu ở Trung tâm Ung thư Quốc gia và điều hành Mô hình cấp cứu nội viện (Code Blue Team).

Bác sĩ Leong hoạt động tích cực trong giáo dục, khi bác sĩ là giảng viên lâm sàng, giảng dạy cho sinh viên y đại học và y tá và bác sĩ trẻ. Bác sĩ thuyết trình nhiều kiến thức cho cộng đồng.

Bác sĩ Leong Swan Swan là thành viên của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, Hiệp hội Ung thư Singapore, Ủy ban Quy định của Hiệp hội Nghiên cứu Ung thư Phổi Quốc tế (IASLC), và Hiệp hội Ung thư người già. Các nghiên cứu của bác sĩ chủ yếu về ung thư phổi và ung thư đầu – cổ. Bác sĩ Leong tham gia vào việc thành lập và điều hành Hiệp hội Ung thư Phổi Singapore. Bác sĩ công bố các nghiên cứu ở các tạp chí trong nước và quốc tế như Tạp chí Ung thư Lâm sàng, Lồng ngực, Ung thư và viết một số chương cho các sách về giai đoạn và điều trị ung thư phổi. Được công nhận về chuyên môn trong ung thư phổi và ung thư khác, bác sĩ Leong là người đánh giá khoa học cho một số tạp chí như Tạp chí Ung thư Lâm sàng, Hô hấp và Tạp chí Y học Singapore.

Bác sĩ Leong có chuyên môn, kinh nghiệm trong điều trị ung thư phổi, ung thư tuyến giáp và ung thư đầu – cổ. Ung thư đầu – cổ là ung thư bắt đầu ở môi, khoang miệng (miệng), khoang mũi (bên trong mũi), các xoang cận mũi, hầu họng, và thanh quản). Bác sĩ nói được tiếng anh và tiếng trung.

Hồ sơ Y của Bác sĩ Leong Swan Swan

  • Tốt nghiệp Đại học Quốc gia Singapore.
  • Thạc sĩ Y (Nội khoa) và thành viên của Trường Y Hoàng gia (Vương quốc Anh) năm 1995.
  • Được trao Giải thưởng Học bổng Chương trình Phát triển Nguồn lao động Bộ Y tế (HMDP) cho đào tạo bác sĩ cao hơn ở ngành ung thư lồng ngực dưới hướng dẫn của Bác sĩ Mark Green ở Trung tâm Ung thư Holling’s năm 1997. Năm 2000, bác sĩ được công nhận là chuyên gia về ung thư và chứng nhận của Hiệp hội Ung thư châu Âu (ESMO).
  • Bác sĩ điều hành Nhóm điều trị cấp cứu ở Trung tâm Ung thư Quốc gia và điều hành của Mô hình cấp cứu nội viện (Code Blue Team).
  • Bác sĩ Leong tích cực tham gia vào các nghiên cứu lâm sàng và nghiên cứu chuyển giao công nghệ trong nhiều năm, về ung thư phổi và ung thư đầu – cổ. Bác sĩ với các thử nghiệm quốc tế về các thuốc hóa trị đang được sử dụng và các thuốc đích mới hơn. Bác sĩ Leong điều tra chính cho hơn 10 thử nghiệm lâm sàng về phát triển thuốc điều trị ung thư.
  • Các nghiên cứu của bác sĩ Leong được công bố ở các tạp chí trong nước và quốc tế uy tín, như Tạp chí Ung thư Lâm sàng, Tạp chí Lồng ngực, Tạp chí Ung thư và viết các chương sách về giai đoạn và điều trị ung thư phổi. Bác sĩ là người đánh giá khoa học cho một số tạp chí như Tạp chí Ung thư Lâm sàng, Tạp chí Hô hấp, và Tạp chí Y học Singapore.
  • Với dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng tốt, và bác sĩ Leong tham gia vào hoạt động giáo dục về y học. Bác sĩ là giảng viên lâm sàng, giảng dạy cho sinh viên y đại học và y tá và bác sĩ trẻ. Bác sĩ thuyết trình nhiều kiến thức cho cộng đồng.
  • Được công nhận về Điều trị Chăm sóc Giảm nhẹ.

Chuyên gia cao cấp, Bác sĩ Ung thư

Cử nhân Y khoa và Cử nhân Phẫu thuật (Singapore) – Thành viên Trường Y Hoàng gia (Vương quốc Anh)

Bác sĩ Tan Chee Seng là bác sĩ ung thư cao cấp ở Trung tâm Ung thư OncoCare. Trước đó thì bác sĩ là chuyên gia ở Khoa Ung thư – Huyết học của Viện Ung thư Đại học Quốc gia Singapore (NCIS), Bệnh viện Đại học Quốc gia (NUH) và chuyên gia được mời ở Bệnh viện Tổng hợp Ng Teng Fong (NTFGH).

Bác sĩ Tan Chee Seng có bằng Đại học Y từ Trường Y, Đại học Quốc gia Singapore, và học Y Sau đại học với chứng nhận của Trường Y Hoàng gia, Vương quốc Anh. Bác sĩ Tan được đào tạo chuyên về ung thư ở Bệnh viện Đại học Quốc gia. Bác sĩ được trao Giải thưởng Phát triển Nghiên cứu Y học danh giá (AMDA) theo đuổi về cá nhân hóa điều trị ung thư phổi ở Bệnh viện Addenbrooke’s, Đại học Cambridge, Vương quốc Anh.

Bác sĩ Tan Chee Seng có chuyên môn lâm sàng về ung thư phổi/lồng ngực và ung thư đầu – cổ. Bác sĩ điều tra chính cho các thử nghiệm lâm sàng ung thư quốc tế, bao gồm các thuốc hóa trị mới, liệu pháp đích, các chất ức chế tyrosine kinase, các liên hợp thuốc kháng thể, các thuốc liệu pháp miễn dịch,… Bác sĩ Tan có công bố ở các tạp chí quốc tế danh tiếng như Tạp chí Ung thư Lancet, Tạp chí Nghiên cứu Ung thư Lâm sàng, Tạp chí Ung thư phân tử, Tạp chí Ung thư phổi, Tạp chí Oncotarget, Target Oncology, Tạp chí Nghiên cứu Ung thư và Ung thư Lâm sàng, Tạp chí Translational Medicine (Y học tịnh tiến), Tạp chí Thực hành Ung thư,…

Bác sĩ Tan Chee Seng được mời để thuyết trình ở các Hội nghị Ung thư trong nước và nước ngoài. Bác sĩ có tổ chức cuộc trao đổi thường niên với cộng đồng về các phương pháp điều trị ung thư tiên tiến mới nhất. Bác sĩ Tan có được một số khoản tài trợ cho Chương trình Hỗ trợ Lương Điều tra Lâm sàng của Hội đồng Nghiên cứu Y Quốc gia (NMRC) và Nhóm Y Nghiên cứu (IMU) của Quỹ tài trợ bắc cầu.

Bác sĩ Tan Chee Seng là thành viên của một số tổ chức chuyên nghiệp, bao gồm có Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO), Hiệp hội Ung thư Châu Âu (ESMO), Hiệp hội quốc tế về Nghiên cứu Ung thư phổi (IASLC) và Ủy ban điều hành Hiệp hội Ung thư Singapore.

Bác sĩ Tan Chee Seng có đào tạo sinh viên đại học và sau đại học ở Trường Y Yong Loo Lin (YLLSOM) và Bệnh viện Đại học Quốc gia (NUH). Trước đó, bác sĩ Tan là Trợ lý Giáo sư ở Khoa Y, YLLSOM và Điều hành Giáo dục Đại học (Ung thư). Bác sĩ Tan Chee Seng là thành viên đào tạo chính của Y nội trú về Ung thư của NUH. Bác sĩ được mời đánh giá cho sinh viên tốt nghiệp MBBS, YLLSOM.

Bác sĩ Tan nói được tiếng anh, tiếng trung và tiếng Malay/Bahasa. Bác sĩ có khả năng nói được một ít tiếng Cantonese và Hokkien. Bác sĩ chăm sóc cho nhiều người bệnh ung thư từ trong nước và nước ngoài, bao gồm có Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Myanmar, Trung Quốc, Bangladesh, Sri Lanka và Ấn Độ.

Hồ sơ Y của Bác sĩ Tan Chee Seng

  • Tốt nghiệp Đại học Quốc gia Singapore năm 2005.
  • Thành viên Trường Y Hoàng gia (Vương quốc Anh) năm 2007.
  • Giải thưởng Học bổng ASEAN (1998-2000) và Học bổng Tài trợ KUOK (2000-2005).
  • Giải thưởng Phát triển Khoa học Y (AMDA) danh giá (2014-2015) được đào tạo ở Bệnh viện Addenbrooke’s, Đại học Cambridge, Vương quốc Anh về cá nhân hóa điều trị các bệnh ung thư phổi.
  • Giảng viên lâm sàng, Trường Y Yong Loo Lin, Đại học Quốc gia Singapore từ 2012-2018.
  • Điều hành Giáo dục đại học (Ung thư), Trường Y Yong Loo Lin, Đại học Quốc gia Singapore từ 2012-2018.
  • Trợ lý Giáo sư Trường Y Yong Loo Lin, Đại học Quốc gia Singapore từ 2016-2018.
  • Bác sĩ được mời đánh giá sinh viên tốt nghiệp MBBS, Trường Y Yong Loo Lin.
  • Công bố các nghiên cứu ở các tạp chí quốc tế uy tín, bao gồm có Tạp chí Ung thư Lancet, Tạp chí Nghiên cứu Ung thư Lâm sàng, Tạp chí Molecular Cancer, Tạp chí Ung thư phổi, Tạp chí Oncotarget, Tạp chí Target Oncology, Tạp chí Nghiên cứu Ung thư và Ung thư Lâm sàng, Tạp chí Translational Medicine (Y học tịnh tiến), Tạp chí Thực hành Ung thư và các tạp chí khác.

Ung thư Đầu - cổ

Quan điểm về Ung thư Đầu – cổ:

Ung thư đầu – cổ mô tả một số loại khối u ác tính khác nhau phát triển trong hoặc xung quanh họng, thanh quản, mũi, các xoang, và miệng. Có 5 loại ung thư đầu – cổ chính, mỗi loại được gọi tên theo vị trí phần cơ thể mà ung thư phát triển.

Đa số ung thư đầu – cổ là ung thư biểu mô tế bào vảy. Ung thư biểu mô tế bào vảy bắt đầu từ các tế bào vảy phẳng, tạo thành lớp mô mỏng trên bề mặt của các cấu trúc ở đầu và cổ. Trực tiếp dưới lớp lót đó được gọi là biểu mô, một số vùng đầu cổ có lớp mô nhầy được gọi là niêm mạc. Nếu ung thư chỉ tìm thấy ở lớp các tế bào vảy, thì được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ. Nếu ung thư phát triển ngoài lớp tế bào đó và xâm lấn vào mô sâu hơn, thì được gọi là ung thư biểu mô tế bào vảy xâm nhập.

Ở Singapore, có hơn 800 người bị chẩn đoán ung thư đầu – cổ mỗi năm. Theo Thống kê Ung thư Singapore, ung thư đầu – cổ phổ biến nhất là ung thư mũi họng (NPC), là ung thư phổ biến được xếp thứ 8 ở người Singapore.

Ung thư đầu – cổ chiếm 12% trong tổng số ung thư ác tính toàn thế giới, và là loại ung thư phổ biến xếp thứ 5 và là nguyên nhân gây chết người do ung thư toàn thế giới.

Dấu hiệu & Triệu chứng của Ung thư Đầu - cổ

Các triệu chứng phổ biến nhất của ung thư đầu – cổ là:

  • Sưng hoặc loét không lành; đó là triệu chứng phổ biến nhất
  • Đốm trắng hoặc đỏ ở miệng
  • Khối hoặc cục u ở vùng đầu hoặc cổ, có gây đau hoặc không đau
  • Loét họng kéo dài
  • Miệng có mùi hôi không được giải thích bằng vệ sinh cá nhân
  • Nói giọng khàn hoặc thay đổi giọng nói
  • Tắc nghẽn mũi hoặc sung huyết mũi kéo dài
  • Thường xuyên bị chảy máu mũi và/hoặc tiết dịch mũi bất thường
  • Khó thở
  • Nhìn đôi (song thị)
  • Tê hoặc yếu phần cơ thể ở vùng đầu và cổ
  • Đau hoặc khó nhai, nuốt, hoặc chuyển động xương hàm hoặc lưỡi
  • Đau xương hàm
  • Máu trong nước bọt hoặc nhầy, tiết dịch nhầy vào miệng từ đường hô hấp
  • Lỏng lẻo răng
  • Các răng giả không còn thích hợp
  • Giảm cân nặng không giải thích được
  • Mệt mỏi
  • Đau tai hoặc nhiễm trùng

Sàng lọc Ung thư Đầu – cổ

Để có đánh giá đầy đủ và chính xác, người bệnh có thể cần được khám tai mũi họng (ENT) bởi các bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng hoặc bác sĩ phẫu thuật đầu và cổ.

Bác sĩ kiểm tra thanh quản và hạ họng (nội soi thanh quản) theo 2 cách:

  • Nội soi thanh quản trực tiếp (linh hoạt): bác sĩ kiểm tra bằng cách đặt ống nội soi thanh quản cấu tạo bằng bó sợi quang học (gồm các sợi thủy tinh) – có ống mỏng, mềm, linh hoạt có đèn sáng – đi qua miệng hoặc mũi để quan sát thanh quản và các vùng gần đó.
  • Nội soi thanh quản gián tiếp: bác sĩ kiểm tra bằng cách sử dụng các gương nhỏ đặc biệt để quan sát thanh quản và các vùng gần đó.

Chẩn đoán Ung thư Đầu - cổ

Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư đầu cổ:

  • Lịch sử y tế và kiểm tra cơ thể: Bước đầu tiên để đánh giá bất kì bệnh gì là bác sĩ thu thập các thông tin về các triệu chứng của người bệnh, các yếu tố nguy cơ gây bệnh, lịch sử bệnh gia đình, và các tình trạng y tế khác của người bệnh. Cuộc kiểm tra thể chất tổng quát có thể giúp không bỏ sót bất kì dấu hiệu nào của người bệnh có thể do ung thư hoặc các bệnh khác. Bác sĩ tập trung nhiều vào vùng đầu – cổ của người bệnh, tìm kiếm các vị trí có bất thường trong miệng hoặc họng, và các hạch bạch huyết to hơn ở cổ.
  • Nội soi kép đồng bộ: soi kiểm tra toàn bộ thanh khí thực quản với kết hợp nội soi thanh quản, nội soi thực quản và nội soi phế quản. Điều đó cho phép bác sĩ kiểm tra được toàn bộ vùng quanh thanh quản và hạ họng, trong đó có thực quản và khí quản.
  • Các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm: các xét nghiệm lấy các mẫu máu, nước tiểu, hoặc các chất khác từ cơ thể người bệnh. Các loại xét nghiệm khác nhau có thể được tiến hành nếu người bệnh bị chẩn đoán ung thư ở thanh quản hoặc hạ họng. Các xét nghiệm này không để chẩn đoán bệnh ung thư, nhưng có thể tiến hành xét nghiệm để xem xét người bệnh có đủ sức khỏe để điều trị theo các phương pháp như phẫu thuật hoặc hóa trị.
  • Xét nghiệm dấu ấn sinh học của khối u: bác sĩ có thể đề nghị tiến hành các xét nghiệm ở phòng thí nghiệm trên mẫu khối u của người bệnh để xác định các gen đặc thù, các protein, và các yếu tố khác là duy nhất của khối u. Xét nghiệm có thể được gọi là xét nghiệm phân tử khối u.
  • Chụp X quang ngực: có thể tiến hành chụp X quang ngực để nhìn thấy ung thư thanh quản hoặc ung thư hạ họng có hoặc không lan tới phổi.
  • Chụp CT (hoặc CAT): có được một loạt các hình ảnh chi tiết về các vùng bên trong đầu và cổ được tạo bởi một máy tính kết nối với máy tia X.
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI): chụp cộng hưởng từ sử dụng từ trường mạnh kết hợp với một máy tính để tạo hình ảnh chi tiết về các vùng bên trong đầu và cổ. Chụp MRI sử dụng sóng âm và từ trường mạnh thay vì sử dụng tia X.
  • Chụp PET: chụp PET sử dụng đường được điều chế theo cách đặc biệt, tiếp theo đường được hấp thụ bởi các tế bào ung thư và xuất hiện như các vùng tối trên ảnh chụp.
  • Sinh thiết: sinh thiết lấy mẫu mô, bác sĩ giải phẫu bệnh nghiên cứu mẫu mô dưới kính hiển vi để chẩn đoán bệnh. Sinh thiết là cách duy nhất chắc chắn để cho biết về một người có bị ung thư. Bác sĩ có thể tiến hành sinh thiết nội soi hoặc sinh thiết chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA).

Nguyên nhân & Yếu tố Nguy cơ Ung thư Đầu - cổ

Có hai chất tăng nguy cơ phát triển ung thư đầu – cổ cao hơn:

  • Thuốc lá: Thuốc lá bao gồm nhiều loại thuốc lá: thuốc lá điếu, thuốc lào, thuốc lá điện tử, thuốc xì gà, kẹo thuốc lá. Thuốc lá là yếu tố nguy cơ lớn nhất gây ung thư đầu – cổ. Các nghiên cứu ước tính là 70% đến 80% các trường hợp ung thư đầu – cổ có liên quan đến sử dụng thuốc lá, và lượng thuốc lá sử dụng có thể ảnh hưởng đến tiên lượng về cơ hội hồi phục của người bệnh ung thư đầu – cổ. Bên cạnh đó, thì người hút thuốc thụ động (gián tiếp) có thể tăng nguy cơ phát triển ung thư đầu – cổ.
  • Rượu: Thường xuyên uống rượu và uống rượu nhiều tăng nguy cơ phát triển các bệnh ung thư miệng, hầu họng, thanh quản và thực quản.


Các yếu tố khác có thể tăng nguy cơ một người phát triển bệnh ung thư đầu – cổ:

  • Tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thời gian dài: Tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thời gian dài có quan hệ với ung thư ở vùng môi, và ung thư da ở đầu -cổ.
  • Vi rút gây u nhú ở người (HPV): Các nghiên cứu cho thấy nhiễm vi rút HPV là yếu tố nguy cơ gây ung thư đầu – cổ. Cách phổ biến nhất mà một người bị nhiễm HPV là có quan hệ tình dục với người bị HPV. Có các loại HPV khác nhau, được gọi là các chủng vi rút HPV. Nghiên cứu một số chủng vi rút HPV có quan hệ mạnh hơn với một số loại ung thư. Vắc xin HPV có thể phòng ngừa một người phát sinh một số bệnh ung thư.
  • Vi rút Epstein-Barr (EBV): Nhiễm EBV, thường được biết là loại vi rút gây bệnh đơn nhân, có vai trò quan trọng trong phát triển ung thư mũi họng.
  • Giới tính: Nam giới có nguy cơ bị ung thư đầu – cổ cao gấp 2-3 lần so với nữ giới. Nhưng, tỷ lệ ung thư đầu – cổ ở nữ giới đang tăng dần trong các thập kỉ gần đây.
  • Tuổi: Người bệnh trên 40 tuổi có nguy cơ bị ung thư đầu – cổ cao hơn.
  • Ý thức vệ sinh răng miệng kém: Chăm sóc răng và miệng kém có thể tăng nguy cơ bị ung thư đầu – cổ.
  • Chất ô nhiễm trong môi trường sống hoặc nghề nghiệp: Hít phải amiăng, bụi gỗ, khói sơn, và các hóa chất độc hại khác có thể tăng nguy cơ một người bị ung thư đầu – cổ.
  • Chế độ ăn uống kém: Ăn thức ăn thiếu vitamin A và B có thể tăng nguy cơ một người bị ung thư đầu – cổ.
  • Bệnh trào ngược dạ dày – thực quản (GERD) và bệnh trào ngược thanh quản họng (LPRD): Trào ngược dịch acid dạ dày vào đường hô hấp trên và họng có thể liên quan tới sự phát triển của ung thư đầu – cổ.
  • Suy giảm hệ thống miễn dịch: Suy giảm hệ thống miễn dịch có thể tăng nguy cơ bị ung thư đầu – cổ.
  • Tiếp xúc với phóng xạ: Tiếp xúc với phóng xạ tăng nguy cơ bị ung thư tuyến nước bọt.
  • Tiền sử ung thư đầu – cổ: Người bệnh từng bị bệnh ung thư đầu – cổ trong quá khứ thì có khả năng cao hơn phát triển bệnh ung thư đầu – cổ khác trong tương lai.

Các loại Ung thư Đầu - cổ

Có 5 loại ung thư đầu – cổ chính, mỗi loại được gọi tên theo vị trí phần cơ thể mà ung thư phát triển.

  • Ung thư thanh quản và ung thư hạ họng: Thanh quản là cơ quan hình ống ở cổ có vai trò quan trọng trong thở, nói và nuốt. Thanh quản ở vị trí trên khí quản. Hạ họng ở phần họng dưới mà bao quanh thanh quản.
  • Ung thư mũi họng: Mũi họng là lối đi cho không khí ở phần họng trên phía sau mũi.
  • Ung thư khoang miệng và môi: Khoang miệng bao gồm có miệng và lưỡi.
  • Ung thư họng miệng: Họng miệng bao gồm phần họng giữa, từ amidan đến đầu thanh quản.
  • Ung thư tuyến nước bọt: Tuyến nước bọt tạo nước bọt. Nước bọt là chất dịch được tiết vào miệng để giữ miệng ẩm ướt và nước bọt có chứa các enzyme để bắt đầu phá vỡ thức ăn.

Giai đoạn Ung thư Đầu - cổ

Giai đoạn là cách mô tả vị trí ung thư, hoặc ung thư có lan truyền đi và ung thư có ảnh hưởng đến các phần khác của cơ thể. Các xét nghiệm và hình ảnh giúp chẩn đoán ung thư của mỗi người bệnh với các thông tin về:

  • loại tế bào mà ung thư bắt đầu và vị trí ung thư bắt đầu
  • các bất thường của các tế bào nhìn dưới kính hiển vi (mức độ)
  • kích thước của ung thư và ung thư có lan truyền (giai đoạn)

Giai đoạn 0 được biết là ung thư biểu mô tại chỗ.

Ung thư mũi họng (ung thư họng trên)

Ung thư chỉ ở lớp tế bào bề mặt lót vòm mũi họng. Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các cơ quan ở phần khác của cơ thể.

Ung thư họng miệng (ung thư họng giữa)

Ung thư chỉ tìm thấy ở lớp lót họng miệng, đó là vị trí của ung thư bắt đầu trước tiên. Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các cơ quan ở các phần khác của cơ thể.

Ung thư hạ họng (ung thư họng dưới)

Ung thư chỉ có ở vị trí ung thư bắt đầu, ở lớp tế bào bề mặt lót hạ họng. Ung thư không phát triển vào các lớp sâu hơn của hạ họng. Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các cơ quan ở các phần khác của cơ thể.

Ung thư khoang miệng và môi

Các tế bào bất thường được tìm thấy ở lớp lót khoang miệng và môi. Các tế bào bất thường đó có thể biến đổi thành ung thư và lan truyền vào mô bình thường gần đó.

Ung thư tuyến nước bọt

Ung thư chỉ có ở lớp các tế bào bề mặt lót ống tuyến nước bọt. Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các cơ quan ở các phần khác của cơ thể.

Ung thư mũi họng (ung thư họng trên)

Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và ở một trong các trạng thái:

  • Khối u ở mũi họng và có thể có hoặc không lan truyền vào họng miệng và/hoặc khoang mũi. Hoặc, không có khối u có thể nhìn thấy ở mũi họng, nhưng ung thư có tìm thấy ở các hạch bạch huyết ở cổ và dương tính với vi rút Epstein-Barr (EBV+). Trong trường hợp đó, ung thư có lan truyền đến từ hơn một hạch bạch huyết ở một bên cổ hoặc đến hạch bạch huyết ở sau họng, và không có hạch nào có kích thước lớn hơn 6 cm.
  • Khối u lan truyền vào các mô ở phía bên trái hoặc phải của họng trên nhưng không vào xương. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến từ hơn một hạch bạch huyết ở một bên cổ hoặc đến hạch bạch huyết ở sau họng và không có hạch bạch huyết nào lớn hơn 6 cm.

 

Ung thư họng miệng (ung thư họng giữa)

Đối với ung thư họng miệng dương tính với HPV:

Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và một trong các trạng thái:

  • Khối u có kích thước dưới 4 cm. Ung thư lan truyền đến ít nhất một hạch bạch huyết ở bên cổ phía đối diện với khối u, hoặc đến các hạch bạch huyết ở hai bên cổ. Không có hạch bạch huyết nào lớn hơn 6 cm.
  • Khối u có kích thước lớn hơn 4 cm, hoặc phát triển vào đáy lưỡi (nắp thanh môn), thanh quản, cơ lưỡi, xương gần đó, hàm, hoặc khẩu cái cứng. Và ở một trong các trạng thái:
  • Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó.
  • Ung thư lan truyền đến ít nhất một hạch bạch huyết ở bên phía có khối u, nhưng không có hạch bạch huyết nào lớn hơn 6 cm.

 

Đối với ung thư họng miệng âm tính với HPV:

Khối u có kích thước từ 2 cm đến 4 cm. Ung thư không lan truyền tới các mô gần đó, các hạch bạch huyết, hoặc các cơ quan ở các phần khác của cơ thể.

Ung thư hạ họng (ung thư họng dưới)

Ung thư không phát triển vào thanh quản, các hạch bạch huyết gần đó, hoặc các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và một trong các trạng thái:

  • Ung thư ở nhiều hơn một phần của hạ họng.
  • Khối u có kích thước từ 2 cm – 4 cm.
  • Ung thư lan truyền vào các mô gần đó.

 Ung thư khoang miệng và môi

Khối u có kích thước dưới 2 cm và điểm sâu nhất của khối u xâm lấn là hơn 5 mm; hoặc khối u có kích thước từ 2 cm – 4 cm và điểm sâu nhất của khối u xâm lấn là dưới 10 mm.

Ung thư tuyến nước bọt

Khối u có kích thước từ 2 cm – 4 cm. Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc mô gần đó. Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể.

Ung thư mũi họng (ung thư họng trên)

Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và một trong các trạng thái:

  • Khối u ở mũi họng. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền vào họng miệng và/hoặc khoang mũi. Hoặc, không có khối u có thể nhìn thấy ở mũi họng, nhưng ung thư có tìm thấy ở các hạch bạch huyết ở cổ và dương tính với vi rút Epstein-Barr (EBV+). Trong trường hợp đó, ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết ở hai bên cổ, và không có hạch nào lớn hơn 6 cm.
  • Khối u lan truyền vào các mô ở phía bên trái hoặc phải của họng trên nhưng không vào xương. Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết ở hai bên cổ, và không có hạch nào lớn hơn 6 cm.
  • Khối u phát triển vào các xoang và/hoặc các xương gần đó. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến các hạch bạch huyết ở cổ hoặc đến các hạch bạch huyết ở sau họng, và không có hạch nào lớn hơn 6 cm.  

Ung thư họng miệng (ung thư họng giữa)

Ung thư họng miệng dương tính với HPV:

Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể. Ung thư lan truyền đến ít nhất một hạch bạch huyết ở bên cổ phía đối diện với khối u hoặc đến các hạch bạch huyết ở hai bên cổ, nhưng không có hạch nào lớn hơn 6 cm. Và một trong các trạng thái:

  • Khối u lớn hơn 4 cm.
  • Ung thư phát triển vào đáy lưỡi (nắp thanh môn).
  • Ung thư phát triển vào thanh quản, cơ lưỡi, các xương gần đó, hàm, hoặc khẩu cái cứng.

 

Ung thư họng miệng âm tính với HPV:

Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và một trong các trạng thái:

  • Khối u lớn hơn 4 cm và có thể có hoặc không phát triển vào đáy lưỡi (nắp thanh môn).
  • Khối u có kích thước bất kì và có thể có hoặc không phát triển vào các mô gần đó. Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết ở bên phía cổ có khối u. Hạch có kích thước dưới 3 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch.


 Ung thư hạ họng (ung thư họng dưới)

Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và một trong các trạng thái:

  • Khối u lớn hơn 4 cm, hoặc ung thư phát triển vào thực quản, hoặc ảnh hưởng tới các dây thanh âm. Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó.
  • Khối u có kích thước bất kì. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền vào các mô gần đó. Ung thư có thể có hoặc không ảnh hưởng tới các dây thanh âm. Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết ở bên phía cổ có khối u, và hạch đó dưới 3 cm.


Ung thư khoang miệng và môi

Khối u lớn hơn 2 cm nhưng dưới 4 cm và điểm sâu nhất của khối u xâm lấn là hơn 10 mm; hoặc khối u lớn hơn 4 cm và điểm sâu nhất của khối u xâm lấn là dưới 10 mm; hoặc lan truyền đến một hạch bạch huyết kích thước dưới 3 cm, ở bên phía cổ có khối u nguyên phát.

Ung thư tuyến nước bọt

Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và một trong các trạng thái:

  • Khối u lớn hơn 4 cm và/hoặc lan truyền vào mô mềm gần đó. Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó.
  • Khối u có kích thước bất kì và có thể có hoặc không lan truyền vào mô mềm gần đó. Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết ở bên phía phần đầu có khối u. Hạch đó dưới 3 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch.

Ung thư mũi họng (ung thư họng trên)

Giai đoạn 4 được chia thành hai nhóm:

  • Giai đoạn IVA: Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, với một trong các trạng thái:
    • Ung thư lan truyền đến sọ và/hoặc các dây thần kinh ở đầu, hạ họng (phần họngdưới), tuyến nước bọt chính, hoặc mắt và các cấu trúc gần đó. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến các hạch bạch huyết ở cổ hoặc đến các hạch bạch huyết sau hầu, và không có hạch nào lớn hơn 6 cm.
    • Ung thư lan truyền đến các cấu trúc ngoài mũi họng và đến các hạch bạch huyết có kích thước lớn hơn 6 cm hoặc trên xương đòn.
  • Giai đoạn IVB: Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến các cấu trúc ngoài mũi họng hoặc đến các hạch bạch huyết gần đó. Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết xa hoặc các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, như xương, gan, hoặc phổi.


Ung thư họng miệng (ung thư họng giữa)

Ung thư họng miệng dương tính với HPV:

Khối u có kích thước bất kì. Ung thư có thể có hoặc không phát triển vào các mô gần đó hoặc các hạch bạch huyết. Ung thư lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, như xương hoặc phổi.

Ung thư họng miệng âm tính với HPV:

Giai đoạn 4 được chia thành ba nhóm:

  • Giai đoạn IVA: Ung thư có kích thước bất kì và lan truyền vào các mô gần đó, như thanh quản, cơ lưỡi, các xương gần đó, hàm, hoặc khẩu cái cứng. Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và một trong các trạng thái:
    • Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó, hoặc ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết ở bên phía cổ có khối u. Hạch có kích thước dưới 3 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết ở bên phía cổ có khối u. Hạch có kích thước từ 3 cm – 6 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư lan truyền đến hơn một hạch bạch huyết ở bên phía cổ có khối u. Không có hạch nào lớn hơn 6 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư lan truyền đến ít nhất một hạch bạch huyết ở bên cổ phía đối diện với khối u hoặc đến các hạch bạch huyết ở hai bên cổ. Không có hạch nào lớn hơn 6 cm.
  • Giai đoạn IVB: Ung thư có kích thước bất kì và có thể lan truyền vào các mô gần đó, như thanh quản, cơ lưỡi, các xương gần đó, hàm, hoặc khẩu cái cứng. Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và một trong các trạng thái:
    • Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết theo một trong các trường hợp:
    • Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết có kích thước lớn hơn 6 cm, nhưng ung thư không lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết có kích thước lớn hơn 3 cm, và ung thư lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư lan truyền đến hơn một hạch bạch huyết ở bên phía cổ có khối u, và một hạch bạch huyết ở bên cổ phía đối diện với khối u, hoặc đến các hạch bạch huyết ở hai bên cổ. Ung thư lan truyền ngoài ít nhất một hạch bạch huyết.
    • Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết ở bên cổ phía đối diện với khối u. Hạch dưới 3 cm, và ung thư lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư phát triển vào nền sọ hoặc các xương khác gần đó, hoặc bọc quanh động mạch cảnh. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó (hạch vùng). 
  • Giai đoạn IVC: Ung thư có kích thước bất kì và có thể có hoặc không lan truyền vào các mô gần đó. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó, nhưng có lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, như phổi hoặc gan.

Ung thư hạ họng (ung thư họng dưới)

Giai đoạn 4 được chia thành ba nhóm:

  • Giai đoạn IVA: Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, và một trong các trạng thái:
    • Ung thư phát triển vào sụn, xương, tuyến giáp, hoặc cơ hoặc mỡ gần đó. Ung thư không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó, hoặc có lan truyền đến một hạch bạch huyết có kích thước dưới 3 cm và ở bên phía cổ có khối u.
    • Khối u có kích thước bất kì. Ung thư có thể có hoặc không phát triển vào các dây thanh âm hoặc các cấu trúc gần đó. Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết theo một trong các trường hợp:
      • Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết có kích thước hơn 3 cm nhưng dưới 6 cm và ở bên phía cổ có khối u.
      • Ung thư lan truyền đến hơn một hạch bạch huyết ở bên phía cổ có khối u, và không có hạch nào lớn hơn 6 cm.
      • Ung thư lan truyền đến ít nhất một hạch bạch huyết ở bên phía cổ khác, và không có hạch bạch huyết nào lớn hơn 6 cm.
  • Giai đoạn IVB: Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể và một trong các trạng thái:
    • Khối u phát triển vào khoang giữa phổi, vào vùng trước gai sống ở cổ, hoặc bao quanh động mạch cảnh. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó.
    • Khối u có kích thước bất kì. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền vào các dây thanh âm hoặc các mô gần đó. Ung thư lan truyền đến ít nhất một hạch bạch huyết có kích thước lớn hơn 6 cm, hoặc lan truyền đến và phát triển ngoài hạch. 
  • Giai đoạn IVC: Khối u có kích thước bất kì. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền vào dây thanh âm hoặc các mô gần đó. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó. Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết xa hoặc các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, như phổi, gan, hoặc xương.

Ung thư khoang miệng và môi

Giai đoạn 4 được chia thành ba nhóm:

  • Giai đoạn IVA: Khối u lớn hơn 4 cm và điểm sâu nhất của khối u xâm lấn lớn hơn 10 mm; hoặc ung thư lan truyền tới bề mặt ngoài của xương hàm trên hoặc dưới, vào xoang hàm, hoặc tới da mặt. Ung thư có thể lan truyền đến một hạch bạch huyết có kích thước dưới 3 cm, ở bên phía cổ có khối u nguyên phát.
  • Ung thư lan truyền tới bề mặt ngoài của xương hàm trên hoặc dưới, vào xoang hàm, hoặc tới da mặt.
  • Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết có kích thước dưới 3 cm, ở bên phía cổ có khối u nguyên phát, và ung thư lan qua bề mặt ngoài của các hạch hạch huyết vào trong mô liên kết gần đó.
  • Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết lớn hơn 3 cm nhưng dưới 6 cm ở bên phía cổ có khối u nguyên phát.
  • Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết có kích thước dưới 6 cm, ở bên phía cổ có khối u nguyên phát.
  • Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết kích thước dưới 6 cm ở bên cổ phía đối diện với khối u nguyên phát hoặc ở hai bên cổ.

 Giai đoạn IVB:

  • Khối u lan truyền đến một hạch bạch huyết kích thước lớn hơn 6 cm.
  • Khối u lan truyền đến một hạch bạch huyết lớn hơn 3 cm ở bên phía cổ có khối u nguyên phát, và ung thư lan qua bề mặt ngoài của các hạch hạch huyết vào trong mô liên kết gần đó.
  • Khối u lan truyền đến một hạch bạch huyết có kích thước bất kì ở bên cổ phía đối diện với khối u nguyên phát, và ung thư lan qua bề mặt ngoài của các hạch hạch huyết vào trong mô liên kết gần đó.
  • Khối u lan truyền đến các hạch bạch huyết ở bất kì vị trí nào ở cổ, và ung thư lan qua bề mặt ngoài của các hạch bạch huyết vào trong mô liên kết gần đó.
  • Khối u lan truyền xa vào các cơ hoặc xương cần để nhai thức ăn, hoặc tới phần xương bướm phía sau hàm trên, và/hoặc tới động mạch cảnh gần nền sọ. Ung thư có thể lan truyền đến từ hơn một hạch bạch huyết có kích thước bất kì, ở bất kì vị trí nào ở cổ. 

Giai đoạn IVC:

  • Khối u lan truyền ngoài khoang miệng hoặc môi tới các phần khác của cơ thể, như phổi, gan, hoặc xương.

Ung thư tuyến nước bọt

Giai đoạn 4 được chia thành ba nhóm:

  • Giai đoạn IVA: Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể và một trong các trạng thái:
    • Khối u có kích thước bất kì và phát triển vào các mô gần đó, như xương hàm, tai, da, và/hoặc dây thần kinh mặt. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó. Nếu có, thì chỉ có một hạch bạch huyết ở bên phía đầu hoặc cổ có khối u. Hạch có kích thước dưới 3 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư có kích thước bất kì và có thể có hoặc không phát triển vào các mô gần đó. Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết theo một trong các trường hợp:
      • Ung thư chỉ ở một hạch bạch huyết ở bên phía đầu hoặc cổ có khối u. Hạch có kích thước từ 3 cm đến 6 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch.
      • Ung thư có ở hơn một hạch bạch huyết ở bên phía đầu hoặc cổ có khối u. Không có hạch nào lớn hơn 6 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch.
      • Ung thư có ở hơn một hạch bạch huyết ở bên phía đầu hoặc cổ đối diện với khối u, hoặc có ở các hạch bạch huyết ở hai bên đầu hoặc cổ. Không có hạch nào lớn hơn 6 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch. 
  • Giai đoạn IVB: Ung thư không lan truyền tới các cơ quan ở các phần khác của cơ thể và một trong các trạng thái:
  • Khối u có kích thước bất kì và có thể có hoặc không phát triển vào các mô gần đó. Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết theo một trong các trường hợp:
    • Ung thư chỉ ở một hạch bạch huyết kích thước lớn hơn 6 cm, và ung thư không lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết kích thước lớn hơn 3 cm, và ung thư có lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư có ở hơn một hạch bạch huyết ở cổ, và ung thư lan truyền ngoài hạch.
    • Ung thư lan truyền đến một hạch bạch huyết ở bên cổ phía đối diện với khối u. Hạch kích thước dưới 3 cm, và ung thư lan truyền ngoài hạch.
  • Khối u có kích thước bất kì và phát triển vào các mô gần đó, như nền sọ hoặc các xương khác gần đó, hoặc bao quanh động mạch cảnh. Ung thư có thể có hoặc không lan truyền đến các hạch bạch huyết gần đó.

Giai đoạn IVC: Khối u có kích thước bất kì và có thể có hoặc không lan truyền đến các tổ chức gần đó và các hạch bạch huyết. Ung thư lan truyền đến các hạch bạch huyết xa hoặc các cơ quan ở các phần khác của cơ thể, như phổi.

Hệ thống giai đoạn TNM là một công cụ bác sĩ sử dụng để mô tả giai đoạn bệnh ung thư. Các kết quả từ các xét nghiệm chẩn đoán và chụp hình ảnh giúp cho biết thông tin về:

  • Khối u (T): Kích thước khối u nguyên phát? Vị trí khối u?
  • Hạch bạch huyết (N): Khối u có lan truyền đến hạch bạch huyết? Nếu có, thì vị trí và số lượng hạch bạch huyết?
  • Di căn (M): Ung thư có lan truyền tới các phần khác của cơ thể? Nếu có, vị trí và mức độ di căn?

Các kết quả được kết hợp để đánh giá giai đoạn ung thư của mỗi người bệnh và thiết kế phác đồ điều trị tốt nhất.

Tìm hiểu thêm về ung thư đầu - cổ